Chương 4 — Vô Tự Không Trả Lời
CANON v1
Sáng hôm sau, Lạc Hành Chu sửa nét mực thứ mười bảy.
Đầu bút chỉ khẽ nghiêng, một đường hồi lưu vốn chạy thẳng từ điểm thứ ba bị hắn tách ra nửa phân, vòng qua một mắt phụ rồi mới nhập về trận tuyến ngoài. Thay đổi nhỏ đến mức người không quen trận đồ nhìn lướt chưa chắc phát hiện, nhưng bảy hàng tính trận phía dưới đều phải viết lại.
Hắn viết từ đầu đến cuối.
Không dùng lối giải của mấy chục năm sau.
Nét bút trên giấy vẫn là nét của Lạc Hành Chu mười bảy tuổi; cách lập trận, phép dẫn linh và những quy tắc hắn viện tới cũng đều nằm trong phạm vi một đệ tử Vô Tướng hiện giờ có thể học được. Hắn chỉ thay một giả thiết sai, rồi để phần còn lại tự đi đến kết quả.
Khi dòng cuối cùng khô mực, nắng sớm vừa vượt qua mái hiên, rơi một vệt mỏng lên góc bàn.
Trận đồ vẫn còn chỗ vụng.
Nhưng ít nhất, chỗ sai hôm qua đã không còn.
Lạc Hành Chu cuộn tờ giấy lại, lấy từ ngăn tủ bên dưới một trận bàn dùng trong giảng khóa sơ cấp.
Mặt bàn làm bằng linh sam già, rộng chưa đầy hai thước. Mười hai đường trận văn khắc chìm giao nhau thành ba vòng dẫn khí, ở bốn góc có lỗ nhỏ để cắm trận châm. Loại trận bàn này trong Vô Tướng Đạo Viện chẳng đáng tiền; đệ tử mới nhập môn làm cháy một cái, nhiều nhất bị chấp sự bắt chép lại trận quy rồi trừ linh thạch tháng sau.
Bên cạnh là một hộp trận châm bằng đồng, bảy viên dẫn linh thạch phẩm chất thấp và nửa lọ linh sa.
Đủ dùng.
Hôm qua, trước khi nghỉ, Lạc Hành Chu đã chọn ba viên dẫn linh thạch có màu sắc gần nhau nhất. Ở mặt dưới viên thứ hai, hắn dùng đầu châm cạo đi một lớp khoáng dẫn mỏng đến mức mắt thường khó nhận.
Hôm nay hắn muốn thử Vô Tự.
Muốn biết một vật mình đã dựa vào suốt nửa đời còn lại được bao nhiêu phần, tốt nhất đừng đem thứ mình cũng không hiểu ra làm phép thử đầu tiên.
Hắn đặt ba viên linh thạch vào ba góc, rắc linh sa dọc hai đường phụ, rồi dùng trận châm ép điểm thứ hai thấp hơn điểm đầu một tầng khí thế. Linh lực theo đầu ngón tay rót vào trận tâm.
Trận văn sáng lên.
Dòng sáng chạy hết một chu thiên, rồi chu thiên thứ hai.
Đến vòng thứ ba, điểm thứ hai chậm nửa nhịp.
Lạc Hành Chu không vội động tay.
Hắn nhìn ánh sáng đi qua từng rãnh trận, nghe tiếng linh sa cực nhỏ ma sát trên mặt gỗ, đồng thời ghi lại biến hóa của sáu chu thiên liên tiếp.
Chỉ ghi những gì mắt thấy, thần thức cảm được.
Không ghi nguyên do.
Xong xuôi, hắn mới khép mắt.
Vô Tự Diễn Lục không hiện ra trong thức hải như một cuốn cổ thư mở sẵn.
Không trang giấy lật.
Không chữ vàng hiện giữa hư không.
Cũng không có một giọng nói nào thay hắn phán đúng sai.
Cảm giác quen thuộc chỉ lặng lẽ mở ra ở nơi sâu trong thần thức, giống như có một mặt giấy vô hình được trải phẳng, rồi những dấu hắn vừa ghi lần lượt được đặt lên đó.
Ba trận điểm.
Sáu chu thiên linh lực chảy qua trận.
Một chỗ chậm nửa nhịp, xuất hiện từ vòng đầu, hơi tăng ở vòng thứ ba rồi ổn định.
Lượng linh sa hao đi.
Độ nóng trên mặt trận bàn.
Nhịp linh lực hắn rót vào trận tâm.
Những thứ ấy không biến thành con số lơ lửng trước mắt. Chúng chỉ trở nên rõ hơn, như các nét mực vốn rời rạc nay được đặt cạnh nhau. Chỗ tương hợp tự nối thành đường; chỗ trái nhau tự lộ ra khe hở.
Ba cách giải hiện lên gần như đồng thời.
Có thể viên dẫn linh thạch thứ hai kém hơn hai viên còn lại.
Cũng có thể rãnh trận phía nam nông sâu không đều, khiến mỗi lần linh lực đi qua đều bị dội ngược một phần.
Hoặc điểm khóa thứ hai đang chịu một luồng nhiễu rất nhỏ từ linh khí quanh phòng.
Chỉ vậy.
Không có chữ nào đứng bên cạnh bảo hắn cách nào đúng.
Lạc Hành Chu mở mắt.
Hắn đổi viên linh thạch thứ hai sang góc thứ ba rồi khởi trận lại.
Nửa nhịp chậm đi theo viên đá.
Khả năng do rãnh trận tự nhiên yếu đi.
Hắn lại xoay trận bàn một góc vuông, giữ nguyên vị trí ba viên linh thạch đối với trận bàn nhưng đổi phương hướng với căn phòng.
Chỗ chậm vẫn đi theo viên đá.
Khả năng do ngoại khí quanh phòng cũng bị ép xuống thấp hơn.
Cuối cùng Lạc Hành Chu tháo viên linh thạch ra, lật mặt dưới lên.
Vết cạo nằm yên ở đó.
Hắn nhìn một lúc rồi đặt viên đá xuống.
Vô Tự không thấy được thứ hắn chưa từng thấy.
Nó cũng không thay hắn tìm ra chân tướng.
Nó chỉ khiến những dấu đã có được xếp lại nhanh hơn, để các đường tương hợp và mâu thuẫn lộ ra sớm hơn.
Lạc Hành Chu cầm bút, viết một hàng nhỏ bên cạnh trận bàn:
Quan sát, ghi lại dấu biến hóa, đối chiếu, suy ra khả năng, rồi mới nghiệm.
Đầu bút dừng lại.
Hắn thêm một hàng dưới đó.
Sai từ lúc ghi, về sau suy càng xa.
Đây vốn là đạo lý rất đơn giản.
Đơn giản đến mức sau khi đã dùng Vô Tự quá lâu, hắn suýt quên mình từng phải học nó.
Một vật dùng thuận tay nhiều năm thường không đáng sợ ở chỗ khó điều khiển. Đáng sợ là đến một ngày người dùng không còn nhớ lúc nào mình đang dựa vào nó.
Lạc Hành Chu thu ba viên dẫn linh thạch về hộp.
Phép thử thứ nhất có nguyên do do hắn tự đặt, chỉ đủ chứng minh Vô Tự vẫn còn khả năng đối chiếu. Muốn biết giới hạn hiện tại nằm ở đâu, hắn cần một vấn đề mình chưa biết đáp án.
Trên giá sách có một trận bàn cũ dùng để luyện cân bằng hỏa khí. Một góc linh sam đã hơi cong vì ẩm, lớp trận văn gần mép có hai chỗ sẫm màu hơn bình thường.
Lạc Hành Chu đặt bốn trận châm xuống.
Khởi trận.
Linh lực chảy qua bốn điểm, đến điểm cuối thì rung khẽ như mặt nước vừa bị đầu kim chạm vào.
Hắn để trận vận hành tám chu thiên.
Vô Tự lại mở.
Lần này các dấu không chịu nối thành một đường gọn như trước.
Mặt gỗ cong có thể làm rãnh trận nông sâu khác nhau.
Một trận châm mòn đầu cũng có thể khiến tiếp xúc với trận văn lúc chặt lúc lỏng.
Linh khí ngoài cửa sổ đang đổi theo gió núi, chưa chắc hoàn toàn không can hệ.
Ngoài ba đường ấy còn một khoảng trống. Không phải một lời nhắc rằng “còn đáp án thứ tư”, mà chỉ là có vài biến hóa hắn đã ghi không khớp trọn vẹn với ba cách giải trên.
Lạc Hành Chu giữ thần thức tại đó.
Đời trước, đến bước này hắn sẽ tiếp tục diễn.
Tám chu thiên có thể tách thành nhiều nhánh, mỗi nhánh lại đem đối với hàng nghìn mẫu cũ đã từng lưu. Loại linh sam này sau bao nhiêu năm dễ cong ở đâu, trận châm đồng dùng quá lâu thường mòn theo hướng nào, hỏa khí tích trong gỗ sẽ để lại vết gì — hắn từng có cả một kho dấu để so.
Hiện giờ, kho ấy không còn.
Tĩnh Thất trống.
Vô Tự cũng chỉ lưu lại chút bóng mờ không đủ gọi thành kho cũ.
Nhưng thói quen của người từng có tất cả những thứ đó vẫn còn.
Lạc Hành Chu vô thức kéo khoảng trống kia sâu thêm một tầng.
Nếu không phải gỗ cong.
Không phải trận châm.
Không phải ngoại khí.
Vậy còn gì?
Một nhánh suy ra khả năng tách ra: có thể dưới mặt trận bàn lẫn tạp khoáng.
Nhánh thứ hai: có thể trận bàn từng bị đặt gần hỏa lò quá lâu, khí tính trong gỗ đã đổi.
Nhánh thứ ba cần biết ai từng dùng nó.
Nhánh thứ tư cần những bản ghi về độ ẩm trong mấy tháng trước.
Mỗi nhánh lại sinh thêm nhánh.
Không còn là lấy dấu thật để suy ra đường có thể có.
Mà bắt đầu lấy khoảng trống để sinh giả định, rồi lấy giả định chồng lên khoảng trống.
Lạc Hành Chu nhận ra.
Nhưng phản xạ đời trước nhanh hơn ý định dừng tay nửa nhịp.
Thái dương hắn đau nhói.
Cơn đau đến thẳng, sắc như một sợi kim lạnh đâm xuyên từ bên trong.
Không phải vết thương cũ ở Táng Tinh.
Vết nứt kia có vị trí và nhịp đau hắn quá quen thuộc, giống một khe khô trong thần hồn, mỗi lần chịu tải đều rạn rộng thêm một chút.
Cái này khác.
Chỉ đơn thuần là thần hồn mười bảy tuổi bị hắn ép chạy quá xa.
Lạc Hành Chu lập tức thu niệm.
Vô Tự lặng xuống.
Tiếng gió ngoài cửa sổ trở lại trước tiên. Sau đó là mùi linh sam ẩm, tiếng đầu trận châm khẽ rung trên mặt bàn, rồi cảm giác về bàn tay đang đặt trên đầu gối.
Hắn không mở mắt ngay.
Trong mấy nhịp đầu, khoảng cách từ tay đến mép bàn có gì đó không thật. Một lớp sáng trắng còn lưu sau mí mắt. Đầu ngón tay lạnh đi.
Lạc Hành Chu mặc kệ chúng.
Không vận thần thức.
Không tự kiểm tra thêm.
Chỉ ngồi yên, để hơi thở trở lại đều đặn.
Mười mấy nhịp sau, cảm giác sai lệch mới từ từ lui xuống.
Cơn đau thái dương vẫn còn, nhưng không tăng.
Lúc ấy hắn mới mở mắt.
Trận bàn trước mặt vẫn là trận bàn cũ.
Nó không vì hắn ép thần hồn quá mức mà tự sinh ra đáp án.
Lạc Hành Chu nhìn hàng chữ vừa viết, im lặng một lát rồi thêm một câu:
Dấu chưa đủ, suy ra thế nào cũng chỉ là phỏng đoán.
Hắn đặt bút xuống.
Đời trước, hắn từng dựa vào những đường suy ra từ dấu vết để sống qua rất nhiều trận.
Cũng từng suýt chết vì tin một cách suy ra quá tròn trịa.
Biết diễn không khó.
Biết lúc nào không nên diễn tiếp mới khó.
Đến giờ Tỵ, cơn đau đầu chỉ còn âm ỉ.
Lạc Hành Chu không chạm vào Vô Tự nữa.
Hắn sang thiện đường phía đông dùng một bữa đơn giản, trở về học xá rồi lấy toàn bộ lịch vụ của bốn tháng tới ra khỏi ngăn gỗ.
Lịch giảng khóa.
Lịch khảo hạch.
Công văn tu sửa trận tuyến.
Danh sách đệ tử được phép theo các tổ trắc mạch xuống núi.
Mấy phần ngọc giản công khai liên quan địa mạch Tây Uyên.
Hắn không xếp chúng thành một dãy đẹp mắt. Chỉ trải từng phần theo thứ tự thời gian, chỗ cần nhớ thì chặn bằng thạch phiến nhỏ, chỗ chưa chắc thì để cách ra.
Sau đó mới đem ký ức đời trước đặt cạnh chúng.
Táng Tinh Uyên nằm ở cuối bốn tháng này.
Không có ngày nào trên những công văn điều phối hiện tại viết rõ “Táng Tinh sẽ mở”. Chuyến đi năm ấy vốn được quyết định sau mấy vòng thăm dò, tranh luận và đổi người. Nhưng khoảng thời gian thì Lạc Hành Chu nhớ rất rõ.
Hắn đặt một viên thạch chặn ở cuối bàn.
Táng Tinh.
Việc phải đổi nhiều nhất.
Cũng là việc hiện giờ hắn ít tư cách nhúng tay nhất.
Một đệ tử mười bảy tuổi không thể đi vào nghị điện của Đạo Viện, nói rằng bốn tháng sau một cấm địa sẽ cướp mạng bao người, còn để lại trong thần hồn hắn một vết nứt kéo dài suốt mấy chục năm.
Không phải vì trưởng bối nhất định sẽ không tin người trẻ.
Mà vì hắn không có gì để họ tin.
Nếu đời trước có một thiếu niên đến trước mặt hắn, mở miệng nói những lời như vậy, Lạc Hành Chu cũng sẽ hỏi trước tiên: ngươi dựa vào đâu?
Không đáp được, thì đó chỉ là lời nói.
Hắn đặt viên thạch thứ hai thấp hơn một đoạn.
Tề Mặc.
Cái tên không cần đào lâu trong trí nhớ.
Tề Mặc lớn hơn hắn vài tuổi, là trắc mạch sư trẻ của Vô Tướng. Không phải đại năng danh chấn một phương, cũng chẳng để lại bí pháp kinh người nào. Trong ấn tượng những năm đầu, người này chỉ là một vị sư huynh học thuật khó tính đến phiền: nhìn một bản trận đồ trước tiên không hỏi ngươi tính ra bao nhiêu, mà hỏi vì sao ngươi dám lấy điều đó làm tiền đề.
Hơn một tháng trước chuyến Táng Tinh của đời trước, Tề Mặc chết.
Một trụ hiệu chỉnh ở Thanh Mạch phản chấn trong lúc khóa mạch. Người đứng gần nhất không kịp tránh.
Trong ghi chép của Đạo Viện, đó là tai nạn.
Không có âm mưu.
Không có kẻ giấu tay phía sau.
Chỉ có một tiền đề sai đã được dùng quá lâu vì phần lớn thời gian nó đều đúng.
Người ta cho rằng khi một nút mạch chỉ phải gánh lượng linh lực trong giới hạn thông thường, hướng hồi lưu của địa mạch sẽ không đổi. Khi ấy không đủ dấu để nghi ngờ điều này. Đến một chu kỳ địa mạch bỗng đổi thế hẳn, trụ thứ ba nhận phản lực, mọi thứ chỉ xảy ra trong mấy hơi thở.
Lạc Hành Chu nhiều năm sau mới lật lại chuyện ấy.
Lúc hắn hiểu vì sao trụ vỡ, Tề Mặc đã chết rất lâu.
Hiện tại, cái tên ấy vẫn nằm nguyên trên danh sách người phụ trách tu chỉnh trận mạch.
Tổ trắc mạch — Tề Mặc.
Mực đen, nét thẳng, không có gì đặc biệt.
Không ai biết hơn một tháng trước Táng Tinh, bốn chữ này sẽ bị gạch khỏi danh sách.
Lạc Hành Chu cũng không thể ngay lúc này chạy đến nói với Tề Mặc rằng hắn sẽ chết vì trụ thứ ba.
Nói quá sớm, hắn phải giải thích mình biết từ đâu.
Đợi đến đúng ngày, e rằng không còn đủ thời gian thay cái sai nằm dưới cả quy trình khóa mạch.
Cách tốt nhất không phải ngăn nhát dao ở lúc nó đã rơi.
Mà là tìm xem trước đó có dấu nào đủ để khiến người ta đổi cách đặt dao hay không.
Lạc Hành Chu đặt viên thạch thứ ba.
Lần này hắn không ghi tên ngay.
Một lát sau mới viết ba chữ lên mảnh giấy nhỏ.
Tạ Hoài Uyên.
Đầu bút dừng nửa nhịp.
So với Táng Tinh và Tề Mặc, người này chẳng phải tai họa hắn cần tránh cho thiên hạ, cũng không phải người hắn có trách nhiệm cứu.
Tạ Hoài Uyên chỉ là một người rất khó tính vào cục.
Một người có kiếm.
Lại rất biết nhìn bàn cờ.
Đời trước, kẻ có thể mạnh hơn Lạc Hành Chu trong một thời điểm không hề ít. Kẻ khiến hắn không muốn để lộ quá nhiều trận ý lại không nhiều.
Tạ là một trong số đó.
Không phải vì Tạ nhìn thấu lòng người.
Hắn chỉ quá giỏi nhìn thứ người khác chịu bỏ và thứ họ nhất định không chịu bỏ.
Một trận điểm Lạc mặc cho bị phá.
Một con đường hắn cố giữ.
Một lần hắn chấp nhận mất pháp khí nhưng không lùi vị trí.
Ba dấu như vậy, nhiều khi đã đủ để Tạ đoán ra nơi Lạc thật sự đặt trọng tâm.
Đời trước, hai người hiểu nhau rất nhiều bằng cách phá cục của nhau.
Đời này Lạc Hành Chu chưa có ý định ôn lại phương pháp ấy sớm như vậy.
Hắn viết bên cạnh tên Tạ hai chữ.
Tạm tránh.
Rồi nhìn ba viên thạch trên bàn.
Táng Tinh phải đổi, nhưng chưa có cửa vào.
Tề Mặc phải cứu nếu có thể, nhưng trước hết phải tìm được dấu thuộc về hiện tại.
Tạ Hoài Uyên thì tốt nhất chưa gặp.
Ba việc đều quá lớn để làm nước cờ đầu.
Lạc Hành Chu dời mắt sang chồng công văn điều phối phía bên phải.
Giữa mấy phần giấy phù có một tờ mỏng hơn, góc đóng ấn xanh của Trắc Mạch Viện.
Kỳ kiểm Thanh Mạch — tuyến Tây Uyên.
Năm ngày nữa bắt đầu.
Ba trụ cũ sẽ được xem lại, hai trận châm nền phải thay, hướng linh lực lưu chuyển trước mùa mưa cũng sẽ đo lại một lượt.
Một việc nhỏ.
Nhỏ đến mức đời trước Lạc Hành Chu không nhớ mình có từng để mắt hay không.
Nhưng hắn nhớ nút mạch này.
Không phải vì nó từng nổ tung.
Nó không nổ.
Nó chỉ sinh ra một chuỗi sai lệch rất nhỏ: linh lực qua tuyến chậm hơn dự tính, một nhánh phụ phải chỉnh nhiều lần, vài chuyến vận tải đi Tây Uyên trễ kỳ. Mỗi việc nhìn riêng đều chẳng đáng gọi là đại sự, bù thêm linh thạch hoặc đổi một bộ phận là xong.
Nhiều năm sau, khi lần theo nguyên do cái chết của Tề Mặc, Lạc mới phát hiện những sai lệch ấy đều có cùng một gốc.
Hướng linh lực trong địa mạch không hoàn toàn đứng yên khi lượng lực dồn qua nút thay đổi.
Khi ấy không ai nhìn thấy đủ dấu để nghi ngờ điều đã dùng được qua bao năm.
Hiện tại, hắn có thể khiến người ta nhìn thêm một dấu.
Không cần nói mình biết kết quả.
Chỉ cần đặt một câu hỏi mà người của hôm nay cũng có lý do để hỏi.
Lạc Hành Chu kéo mạch đồ Thanh Mạch từ giá ngọc giản công khai xuống.
Mười bốn điểm trắc đã được đánh dấu.
Chín điểm ở nơi dễ đặt trận cụ.
Ba điểm bám trụ chính.
Hai điểm còn lại dùng để đối chiếu mạch nền.
Không điểm nào nằm ở vùng tây nam, nơi những đoàn hàng nặng đi qua sẽ khiến lượng linh lực và sức ép dồn lên nút mạch theo một hướng khác hẳn khi nút mạch chỉ chịu lượng linh lực thông thường.
Lạc Hành Chu nhìn mạch đồ khá lâu.
Thế là đủ.
Không đủ để nói cách cũ sai.
Nhưng đủ để hỏi: khi lượng lực dồn qua nút mạch đổi, vì sao chúng ta chưa từng đo nơi này?
Hắn lấy một tờ trình mới.
Nét bút gọn, không dài dòng.
Xin thêm một điểm trắc ở mép tây nam Thanh Mạch trong kỳ kiểm sắp tới. Mười bốn điểm hiện có phần nhiều lấy khi địa mạch đang vận hành bình ổn; chưa đủ để nghiệm hướng hồi lưu lúc lượng linh lực dồn qua nút tăng. Đề nghị thử ở hai mức truyền lực, mỗi mức vận hành ba chu thiên. Nếu mạch hướng không đổi, lập tức dừng, không cần hao thêm linh thạch.
Hắn đọc lại.
Không một chữ nào cần tương lai làm chứng.
Cũng không một câu nào nói quá những gì mạch đồ hiện tại cho phép.
Lạc Hành Chu ký tên.
Giờ Ngọ, trước án tiếp vụ của Trắc Mạch Viện đã có một hàng người.
Mấy đệ tử năm trên đang xin mượn trận trụ. Hai chấp sự ngồi sau bàn đá, một người xem ngọc giản, một người đóng viện ấn — con dấu xác nhận của Trắc Mạch Viện — lên công văn. Bên cạnh treo bảng phân công mới thay, mực ở mấy hàng cuối còn chưa khô hẳn.
Lạc Hành Chu đứng cuối hàng.
Đến lượt hắn, vị chấp sự trước mặt nhận tờ trình, đọc hết một lượt rồi ngẩng lên.
“Thêm điểm trắc khi tăng lượng lực qua nút?”
“Vâng.”
“Ngươi cho rằng phép đo cũ có vấn đề?”
“Chưa thể nói vậy.”
Chấp sự đặt tờ giấy xuống.
“Thế ngươi muốn đo thêm để làm gì?”
“Vì cách cũ chỉ cho thấy địa mạch lúc vận hành bình ổn. Nếu chưa từng tăng lượng lực đi qua mép tây nam, ta không biết mạch hướng khi lượng lực tăng có còn giống lúc vận hành bình thường hay không.”
Người kia nhìn hắn một lát.
“Khác nhau ở đâu? Nếu nhiều năm qua vẫn dùng được thì sao?”
Lạc Hành Chu đáp: “Dùng được nhiều năm chỉ chứng minh nó chưa sai đến mức làm người ta phải nhìn lại.”
Chấp sự bên cạnh đang xem ngọc giản khựng tay, ngẩng đầu nhìn sang.
Vị trước mặt hắn thì gõ hai lần lên tờ trình.
“Ba chu thiên?”
“Ba chu thiên đủ nhìn xem sai lệch có lặp lại hay chỉ là nhất thời.”
“Hai mức truyền lực?”
“Nếu mạch hướng đổi theo lượng lực đi qua nút, chỉ thử một mức thì không nhìn ra được.”
“Đã thử trên Thanh Mạch chưa?”
“Chưa.”
“Có bản ghi cũ làm chứng?”
“Chưa có bản nào đủ để làm chứng.”
“Vậy ngươi dựa vào đâu mà nghĩ tới chuyện này?”
Lạc Hành Chu đưa ngón tay chỉ lên mạch đồ đính kèm.
“Mười bốn điểm đều thuận cho việc đo mạch tĩnh.”
Hắn dừng một nhịp.
“Ta chỉ muốn biết khi mạch không tĩnh thì sao.”
Chấp sự nhìn hắn, rồi lại nhìn tờ trình.
Cuối cùng người kia lấy viện ấn màu xám đóng xuống góc giấy.
“Ta chuyển sang tổ trắc mạch. Bọn họ thấy đáng thử thì sẽ gọi ngươi. Không thấy đáng thử thì tờ giấy này nằm kho, đừng chạy tới hỏi ta.”
“Được.”
Lạc Hành Chu nhận lại một mộc bài nhỏ, trên khắc số của tờ trình.
Hắn vừa định rời đi, chấp sự ngồi bên cạnh bỗng hỏi:
“Ngươi là Lạc Hành Chu?”
“Vâng.”
“Bài trắc mạch tháng trước, ngươi đứng đầu nhóm đệ tử chưa đầy hai mươi?”
Lạc Hành Chu nghĩ một thoáng rồi gật đầu.
Đó là sự thật, không có gì cần khiêm nhường thành không phải.
Người kia bật cười.
“Thảo nào. Đi đi. Nếu Tề Mặc xem trúng tờ trình của ngươi, hắn hỏi còn khó hơn chúng ta.”
Bước chân Lạc Hành Chu hơi dừng.
Chỉ một nhịp.
“Tề sư huynh phụ trách kỳ kiểm lần này?”
“Ừ. Sao?”
“Không sao.”
Hắn thu mộc bài vào tay áo, hành lễ rồi rời Trắc Mạch Viện.
Ánh nắng giữa trưa rơi trắng trên bậc đá. Gió từ dãy núi phía tây thổi qua hành lang, cuốn mấy mảnh lá khô sát chân tường.
Lạc Hành Chu đứng dưới mái hiên, nhìn mộc bài trong lòng bàn tay.
Một tờ trình.
Một điểm trắc còn chưa chắc được dựng.
Có thể chiều nay đã bị gác lại.
Có thể được thử, nhưng mạch hướng chỉ lệch một chút không đủ khiến ai thay cách làm.
Cũng có thể người ta nhìn thấy điều hắn muốn họ nhìn thấy, rồi vì tốn thêm linh thạch và nhân lực mà vẫn chọn giữ quy củ cũ.
Không điều nào trong số đó nằm chắc trong tay hắn.
Lạc Hành Chu lại thấy như vậy tốt hơn.
Tốt hơn một lời tiên tri chỉ cần nói ra là buộc người khác phải tin.
Hắn cất mộc bài vào tay áo.
Việc đầu tiên hắn chạm vào sau khi trở lại không phải Táng Tinh Uyên.
Không phải cái chết của Tề Mặc.
Cũng không phải Tạ Hoài Uyên.
Chỉ là một điểm trắc chưa có trên mạch đồ.
Nếu dòng cũ thật sự có thể đổi, một điểm nhỏ như vậy đã đủ để nhìn xem nước sẽ chảy sang đâu.
Còn nếu không—
Lạc Hành Chu dừng ý nghĩ ấy lại.
Chưa có kết quả, không cần vội diễn tiếp.
Hắn bước xuống bậc đá, đi về phía giảng đường buổi chiều.
Mộc bài trong tay áo im lặng.
Không phát sáng.
Không rung lên.
Không có bất kỳ thứ gì thay hắn nói lựa chọn vừa rồi là đúng hay sai.
Lạc Hành Chu thấy như vậy rất tốt.
Ít nhất, thứ đầu tiên hắn đặt trước dòng lịch sử vẫn chỉ là một câu hỏi.