Chương 26 — Bản Sửa Thứ Ba
DRAFT
Tề Mặc đi khỏi thư khố được nửa con phố thì dừng lại.
Lạc Hành Chu cũng dừng theo. Trong tay Tề Mặc là ba tờ bản dập vừa lấy được, mỗi tờ đều mỏng hơn giấy thường, ép giữa hai miếng gỗ để khỏi cong mép. Họ đã chờ gần một canh giờ trong thư khố chỉ để người giữ kho xác nhận ba bản ấy thuộc ba lần sửa khác nhau của cùng một đoạn tây tuyến.
Tề Mặc không mở chúng giữa đường. Hắn chỉ hỏi:
“Ngươi thấy người Hình Đường vừa rồi?”
“Thấy.”
“Đi cùng Tạ Hoài Uyên.”
“Thấy.”
“Ngươi không định hỏi?”
Lạc Hành Chu nhìn hắn. “Ngươi muốn ta hỏi gì?”
Tề Mặc nghĩ một nhịp rồi đáp: “Không biết.”
“Vậy thôi.”
“Ừ.”
Tề Mặc tiếp tục đi.
Cách trả lời ấy làm Lạc Hành Chu thấy dễ chịu hơn nhiều người khác. Tề Mặc có tò mò, nhưng chưa bao giờ coi tò mò là lý do đủ để chạm vào chuyện của người khác. Hắn có thể hỏi đến tận cùng một con số sai một hơi, nhưng nếu trước mặt là một cái hộp có niêm Hình Đường và người giữ hộp không mở, hắn cũng không tự dựng câu chuyện để lấp khoảng trống.
Lạc Hành Chu không khác hắn ở điểm ấy.
Ít nhất là hôm nay.
Trong đời trước, có những lúc hắn đã quen với việc biết quá nhiều. Biết một người sẽ chết ở đâu, một trận pháp sẽ hỏng ở chỗ nào, một tông môn sẽ đứng về phía nào. Sau khi trở lại, thói quen ấy từng khiến hắn nhìn vào khoảng trống và vô thức muốn điền ngay thứ mình nhớ vào đó.
Chương 22 đã cắt thói quen ấy một lần.
Chương 24 lại cắt thêm một lần nữa.
Bây giờ, thấy Tạ Hoài Uyên đi cùng Hình Đường qua một cánh cửa mình vừa bước ra, Lạc Hành Chu chỉ giữ lại đúng một điều có thật: hai bên đang tra những thứ cũ trong cùng một thư khố.
Còn tra gì, chưa biết.
Về tới trạm ngoài, Tề Mặc đóng cửa gian làm việc rồi mới tháo dây buộc ba bản dập.
“Bản đầu.”
Hắn đặt tờ sẫm màu nhất bên trái.
Đây là bản gần với trận đồ họ xem hôm qua nhất. Cùng ba điểm neo, cùng tuyến cũ chạy qua phía bắc, cùng ký hiệu vòng khuyết ở đoạn không thể khép tự nhiên nếu ép mọi nét lên một mặt giấy.
Bản thứ hai muộn hơn gần ba mươi năm.
Vòng khuyết vẫn còn, nhưng cạnh nó đã thêm hai nét ngắn song song, giống dấu người chép cố phân biệt một đường với đường khác. Phần chú giải bên mép giấy bị mất quá nửa; chỉ còn nhìn được ba chữ rời nhau: “chuyển”, “neo”, “sâu”. Không đủ để ghép thành một câu.
Bản thứ ba mới nhất.
Lạc Hành Chu nhìn nó lâu nhất.
Vòng khuyết biến mất.
Hai nét song song cũng biến mất.
Thay vào đó, đoạn đường thứ hai được vẽ thành một nét đứt rất mảnh, chạy gần theo tuyến mặt đất rồi dừng trước một vùng được gạch chéo. Bên cạnh có một câu rõ ràng hơn hai bản trước:
Bản cũ đối chiếu, không dùng dẫn tuyến.
Tề Mặc hỏi: “Thấy gì?”
“Người đời sau không sửa cho nó khép.”
“Ừ.”
“Họ bỏ cách vẽ cũ.”
“Còn gì?”
Lạc Hành Chu đặt ba tờ cạnh nhau. “Bản thứ ba không coi đoạn ấy là thứ cần thể hiện đầy đủ cho người đi tuyến.”
Tề Mặc gõ đầu ngón tay lên bàn. “Đấy mới là chỗ ta muốn nhìn.”
Hôm qua, họ hỏi vì sao một đường có hai đầu lại không khép được trên mặt giấy.
Hôm nay, ba bản sửa đưa ra một câu hỏi khác nhỏ hơn: từ khi nào người vẽ thôi cố ghi nó theo cách cũ?
Không cần biết vòng khuyết thật sự đại diện cho gì, vẫn có thể thấy người giữ tuyến qua các đời đã thay đổi cách ghi. Bản đầu giữ nguyên một thứ khó hiểu. Bản thứ hai thử bổ sung thêm dấu. Bản thứ ba gạt nó khỏi phần dùng để dẫn đường, chỉ giữ như đối chiếu.
Tề Mặc lấy giấy trắng, chia làm ba cột.
Lạc Hành Chu nói: “Đừng viết ‘bị xóa’.”
“Ta có định viết sao?”
“Ngươi vừa nhìn bản ba như muốn mắng người chép.”
“Ta đang mắng trong đầu.”
“Vậy đừng để nó ra giấy.”
Tề Mặc liếc hắn. “Ngươi hôm nay nhiều lời.”
“Vì ba bản dễ làm người ta tham.”
“Tham cái gì?”
“Tham một câu chuyện liền mạch.”
Tề Mặc im một lát, rồi viết xuống:
Bản một: giữ vòng khuyết.
Bản hai: giữ vòng khuyết, thêm hai nét phụ; chú giải hỏng.
Bản ba: bỏ ký hiệu cũ khỏi phần dẫn tuyến, giữ đoạn dưới dạng đối chiếu.
Hắn đặt bút xuống. “Đủ chưa?”
“Đủ.”
“Không đoán ai ngu đi theo từng đời?”
“Không.”
“Tiếc thật.”
Lạc Hành Chu không đáp.
Một lát sau, chính Tề Mặc lại nói: “Nhưng bản ba có một ưu điểm.”
“Gì?”
“Người dùng nó ít có khả năng đi theo một đường mà họ không hiểu.”
“Và nhược điểm?”
“Người đời sau dễ tưởng cái không còn dùng thì không còn tồn tại.”
Lạc Hành Chu nhìn bản dập thứ ba.
Đó là điều hắn cũng vừa nghĩ.
Buổi trưa, Hàn Tố Nghi tới trạm ngoài để xem ba bản.
Bà không ngồi. Vừa vào phòng đã kéo bản thứ ba tới gần, đọc dòng “không dùng dẫn tuyến”, rồi nhìn hai bản cũ hơn.
“Các ngươi muốn gì?” bà hỏi.
Tề Mặc đáp: “Chưa xin mở tuyến.”
“Ta biết. Ta hỏi muốn gì.”
“Giữ toàn bộ bản sửa cũ, đừng để thư khố loại những bản đã hết giá trị vận hành.”
Hàn Tố Nghi nhìn hắn. “Thư khố Tây Uyên không đốt giấy chỉ vì đường đổi.”
“Không đốt.” Tề Mặc nói. “Nhưng có loại sang kho phụ, có loại gộp lại, có loại chỉ giữ mục tên. Nếu vài chục năm nữa người sau chỉ còn bản ba, họ sẽ không biết vòng khuyết từng được vẽ hai lần trước đó.”
“Ngươi định lấy ba bản này làm bằng chứng nguyên nhân Thanh Mạch?”
“Không.”
“Làm căn cứ mở lại đoạn mốc một–mốc hai?”
“Không.”
“Vậy giữ để làm gì?”
Tề Mặc quay sang Lạc Hành Chu. “Ngươi nói.”
Lạc Hành Chu không thích việc bị đẩy sang, nhưng câu trả lời đã có sẵn.
“Để biết cái gì đã từng được coi là cần ghi.”
Hàn Tố Nghi nhướng mày.
Lạc Hành Chu đặt bản một và bản ba cạnh nhau. “Nếu chỉ nhìn bản ba, ta sẽ biết người đời sau không dùng đoạn này để dẫn tuyến. Nhưng không biết trước đó người ta từng giữ một ký hiệu riêng ở đây. Bản cũ không cho phép chúng ta mở đường. Nó chỉ cho thấy cách hiểu của người dùng tuyến đã thay đổi.”
“Cách hiểu hay cách vẽ?”
“Chưa phân biệt được.”
Hàn Tố Nghi gật đầu. “Tốt. Ít nhất ngươi biết chỗ nào chưa phân biệt được.”
Bà kéo ghế ngồi xuống.
“Ta có thể yêu cầu thư khố giữ nguyên mục lục các bản sửa liên quan tây tuyến trong thời gian đoạn này còn đóng. Không được mang bản gốc khỏi kho. Không được lấy một ký hiệu cũ làm lý do cho người vào vùng đỏ. Và mọi bản sao đưa vào hồ sơ hiện tại phải ghi rõ ‘lịch sử đối chiếu’, không phải ‘tình trạng vận hành’.”
Tề Mặc hỏi: “Có thể sao các mục niên đại không?”
“Có.”
“Các bản bị xếp kho phụ?”
“Có danh mục thì sao. Không có danh mục thì phải xin người khố tìm.”
“Được.”
Hàn Tố Nghi nhìn hai người. “Các ngươi còn muốn gì nữa?”
Tề Mặc chỉ vào bản thứ hai. “Ta muốn biết hai chữ quanh ‘neo’ còn có bản sao khác không.”
“Xin thư khố.”
“Ta đã xin.”
“Vậy chờ.”
“Ta ghét chờ.”
“Ta biết.”
Hàn Tố Nghi đứng dậy. Trước khi ra cửa, bà dừng lại ở tờ ba cột Tề Mặc vừa viết.
“Đừng sửa bản làm việc mới để nó giống bản nào trong ba bản này.”
Tề Mặc hỏi: “Vì?”
“Vì đoạn hiện tại vẫn đang đóng và chưa ai biết nó giống đời nào.”
Bà quay sang Lạc Hành Chu. “Tờ trắng trên bản mới vẫn để trắng.”
“Vâng.”
“Càng tra được nhiều giấy cũ, càng dễ sinh cảm giác phải điền gì đó vào.”
Lạc Hành Chu gật đầu.
Hàn Tố Nghi rời phòng.
Tề Mặc chờ tiếng chân xa rồi nói: “Nàng ấy tưởng ngươi sẽ vẽ.”
“Ta cũng từng tưởng.”
“Bây giờ?”
“Không.”
Tề Mặc nhìn hắn một nhịp, không hỏi thêm.
Đến đầu giờ Mùi, thư khố gửi sang một hòm nhỏ.
Không có bản gốc. Chỉ có sáu tờ sao mục và một mảnh giấy niêm của Tây Uyên. Trên mảnh giấy ghi rằng một số bó tài liệu cùng đợt tu sửa tây tuyến đã được Hình Đường Quy Tàng yêu cầu giữ nguyên hiện trạng cho tới khi đối chiếu xong một việc khác.
Không ghi việc gì.
Không ghi tên ai.
Tề Mặc đọc xong, đặt sang một bên.
“Người Hình Đường sáng nay.”
“Có thể.” Lạc Hành Chu nói.
“Và Tạ Hoài Uyên.”
“Có thể.”
“Ngươi vẫn không hỏi?”
“Không.”
Tề Mặc cười khô. “Tốt. Ta chỉ hỏi để chắc ngươi chưa đột nhiên trở nên dễ đoán.”
Lạc Hành Chu mở sáu tờ sao mục.
Phần lớn vô dụng cho câu hỏi hiện tại. Hai tờ là sổ sửa kè. Một tờ ghi thay cọc mốc. Một tờ ghi giếng cũ bị lấp. Nhưng tờ thứ năm và thứ sáu có cùng tên hòm với bản thứ hai họ đang giữ.
Tờ thứ năm ghi một lần bổ sung chú giải.
Không chép nội dung chú giải, chỉ ghi người làm và mục đích: phân biệt điểm dẫn với điểm chuyển sau sửa nền bắc tuyến.
Tờ thứ sáu muộn hơn mười hai năm.
Mục sửa ghi: lược phần không dùng cho dẫn tuyến; giữ bản cũ tại kho đối chiếu.
Lạc Hành Chu đọc lại hai lần.
Tề Mặc hỏi: “Sao?”
“Bản ba không phải người sao tự tiện bỏ.”
“Ừ.”
“Có lệnh lược.”
“Ừ.”
“Nhưng vẫn có lệnh giữ bản cũ.”
Tề Mặc gật. “Tức là người lúc đó biết họ đang bỏ cái gì khỏi bản dùng hằng ngày.”
Lạc Hành Chu đặt tờ thứ sáu cạnh bản dập thứ ba.
Điều này làm câu chuyện đơn giản hơn ở một chỗ và khó hơn ở chỗ khác.
Không có dấu cho thấy một người lén xóa vòng khuyết khỏi bản đồ. Việc lược bỏ được ghi lại công khai như một lần chỉnh cách dùng giấy. Bản cũ vẫn phải giữ ở kho đối chiếu.
Nhưng chính vì vậy, ký hiệu ấy càng khó coi là một lỗi sao chép vô nghĩa.
Nếu hoàn toàn vô nghĩa, không cần phải ghi lệnh “lược phần không dùng”. Nếu là sai, người ta có thể sửa thẳng. Cách ghi cho thấy ít nhất ở thời điểm đó, người sửa biết có một phần cấu trúc cũ tồn tại nhưng không muốn người đi tuyến dựa vào nó nữa.
Tề Mặc lấy bút, định viết.
Lạc Hành Chu nói: “Đừng viết ‘cấu trúc’.”
“Ta chưa viết.”
“Ngươi đang nghĩ.”
“Ta bắt đầu thấy khó chịu với việc ngươi đoán ta định viết gì.”
“Vậy viết đi.”
Tề Mặc viết:
Phần ký hiệu cũ được lược khỏi bản dẫn tuyến theo lệnh sửa; bản cũ vẫn được giữ để đối chiếu. Ý nghĩa vật lý chưa biết.
Lạc Hành Chu đọc xong. “Được.”
“Cảm ơn đã phê.”
“Không có gì.”
“Ta không cảm ơn thật.”
“Ta biết.”
Không khí trong phòng nhẹ đi một chút.
Rồi Lạc Hành Chu nhìn lại dòng niên đại.
Một ý nghĩ cũ trở về.
Không phải về Tây Uyên.
Về Táng Tinh.
Trong Tĩnh Thất, bản đồ hắn vẽ từ ký ức vẫn nằm đúng chỗ cũ.
Lạc Hành Chu không mở Vô Tự.
Hắn chỉ lấy tờ giấy ra, đặt dưới ánh đèn, rồi đặt cạnh bản sao thứ ba của Tây Uyên.
Hai tấm bản đồ khác nhau về nơi chốn, khác nhau về niên đại, khác nhau về người dùng. Không có lý do để coi một cách vẽ ở Tây Uyên là nguồn trực tiếp của bản đồ Táng Tinh đời trước.
Nhưng chúng có một điểm chung về mục đích.
Đều là bản dùng để người ta đi.
Bản Táng Tinh đời trước của Lạc Hành Chu từng rất tốt ở việc đó. Nó đưa đoàn qua đúng khe, tránh đúng vùng sụt, đặt đúng trụ, nối đúng lộ trình. Hắn từng nghĩ một tấm bản đồ đã giúp hàng chục người đi sâu vào Táng Tinh thì ít nhất phải đủ đúng ở những phần quan trọng.
Điều ấy vẫn đúng.
Chỉ là “đủ đúng để đi” không đồng nghĩa “ghi hết mọi thứ từng tồn tại”.
Lạc Hành Chu ngồi im.
Đây là điểm hắn chưa từng tách ra trong đời trước.
Một bản vận hành có thể cố ý bỏ những phần không cần cho nhiệm vụ trước mắt. Nếu người làm việc đời sau chỉ nhận bản ấy mà không thấy kho đối chiếu, họ sẽ không biết những nét bị lược từng có tên, từng có ký hiệu, từng được một thế hệ khác coi là đáng giữ.
Táng Tinh đời trước có bao nhiêu lớp như vậy?
Lạc Hành Chu không biết.
Hắn cũng không dùng Vô Tự để hỏi.
Vô Tự có thể đưa ra mười khả năng, hai mươi khả năng, rồi bắt đầu kéo thần thức của hắn theo những đường chưa có dấu. Chương 24 đã đủ để chứng minh công cụ ấy hữu ích khi hắn cần sắp xếp thứ đang có. Hôm nay hắn thiếu vật chứng, không thiếu khả năng.
Dùng thêm chỉ làm căn phòng đông hơn.
Lạc Hành Chu lấy bút, không viết vào bản Táng Tinh.
Hắn viết ở tờ giấy nhỏ cạnh bên:
Cần tìm: bản trước khi lược, không chỉ bản dùng cuối cùng.
Rồi dừng.
Không có kết luận rằng Táng Tinh từng bị che giấu.
Không có kết luận rằng người đời trước cố ý bỏ một bí mật.
Chỉ có một yêu cầu mới đối với chính hắn: nếu sau này phải dựa vào một tấm bản đồ cũ, phải hỏi nó được làm để làm gì trước khi hỏi nó nói thật bao nhiêu.
Lạc Hành Chu đặt tờ ký ức trở lại giá.
Lần này hắn không thấy khó chịu vì phần chưa vẽ.
Khoảng trống vẫn ở đó, nhưng nó không còn giống một lỗi cần điền ngay.
Cuối giờ Mùi, một người của Tây Uyên mang công văn tới trạm ngoài.
Tề Mặc đọc trước, cau mày.
“Lại gì?” Lạc Hành Chu hỏi.
“Y tu.”
“Có người bị thương?”
“Không.”
Tề Mặc đưa giấy cho hắn.
Sau sự cố Thanh Mạch, Tây Uyên đã nhận ba báo cáo về linh lực chao nhẹ hoặc thần thức khó ổn định ở những người từng đứng gần vùng biến động, đều xuất hiện muộn hơn chứ không ngay lúc rút khỏi tuyến. Không ai nặng, nhưng Hàn Tố Nghi không cho phép bỏ qua vì triệu chứng đến sau.
Ngày mai, những người đã trực tiếp làm việc ở đoạn mốc một–mốc hai phải qua một lượt kiểm lại.
Không chỉ người có thương.
Tề Mặc nói: “Ta cũng có tên.”
“Ta thấy.”
“Ngươi cũng có.”
“Ta thấy.”
“Đừng nói ngươi không cần.”
“Ta chưa nói.”
“Ngươi đang nghĩ.”
Lạc Hành Chu ngẩng lên.
Tề Mặc chống tay lên án. “Câu này ta học từ ngươi.”
“Dùng chưa tốt.”
“Ngày mai có thể luyện tiếp.”
Lạc Hành Chu gấp công văn lại.
Không có lý do để từ chối. Hắn chưa thấy đau đầu, chưa thấy thức hải bất ổn, Vô Tự hôm qua cũng chỉ dùng rất ngắn. Nhưng chính vì triệu chứng ở ba người kia xuất hiện muộn, việc “hiện giờ không có gì” không còn đủ để tự bỏ qua.
Hàn Tố Nghi đã biến một nguyên tắc thành việc cụ thể: ai từng đứng gần vùng biến động đều phải được kiểm lại, không chờ tới lúc ngã xuống mới gọi đó là hậu quả.
Tề Mặc thu ba bản dập vào hộp.
“Còn bản làm việc?”
Lạc Hành Chu kéo tấm bản đồ mới lại gần.
Đoạn giữa mốc một và mốc hai vẫn trắng.
Hắn không thêm vòng khuyết.
Không thêm hai nét song song.
Không thêm đường đứt của bản sửa thứ ba.
Chỉ ghi ở mép ngoài một dòng nhỏ: có ba dạng ghi lịch sử; lưu riêng, chưa dùng cho vận hành.
Tề Mặc nhìn rồi gật.
“Xong.”
“Ừ.”
Họ khóa các bản dập vào hòm trả thư khố vào sáng hôm sau.
Ngoài cửa sổ, cờ đỏ ở hướng Thanh Mạch không nhìn thấy từ trạm, nhưng đoạn đường vẫn đóng như cũ. Không có tuyến mới được mở. Không có nguyên nhân nào được tìm ra. Không có ký hiệu nào tự biến thành lời giải chỉ vì họ đã thấy nó trên ba đời giấy.
Thứ thay đổi chỉ là cách Lạc Hành Chu nhìn một tấm bản đồ.
Trước đây hắn sợ ký ức đời trước không còn đúng vì tương lai đã bị bẻ sang hướng khác.
Bây giờ hắn phải chấp nhận thêm một khả năng khó chịu hơn: có những thứ đời trước hắn nhớ rất đúng, nhưng bản thân thứ hắn nhớ vốn đã chỉ là phần người ta cần hắn nhìn thấy để đi tiếp.
Lạc Hành Chu đóng nắp hòm.
Sáng mai, trước khi tra thêm bất kỳ bản nào, hắn sẽ tới chỗ y tu trước.
Không phải vì hắn tin mình đang có thương.
Mà vì lần này, hắn không định dùng kinh nghiệm của một thân thể đã sống quá lâu để quyết thay cho thân thể mười bảy tuổi xem cái gì đáng gọi là giới hạn.