Chương 25 — Không Giữ Trong Nhà
DRAFT
Sáng hôm sau, Tạ thị Tây viện có thêm một ổ khóa.
Tạ Hoài Uyên đứng ngoài gian nhà phía tây, nhìn sợi dây niêm mới kéo ngang hai cánh cửa. Dây màu xám, nút buộc không phải kiểu của Tạ gia. Trên miếng giấy ép ở giữa có hai dấu: một dấu của Hình Đường Quy Tàng, một dấu nhỏ của Tây Uyên dùng để xác nhận việc niêm xảy ra tại chỗ chứ không phải từ nơi khác mang tới.
Lão quản khố đứng bên cạnh, hai tay giấu trong tay áo.
“Người tới trước giờ Thìn,” ông nói. “Có công văn.”
“Ta đoán được.”
“Không cho ta vào lấy sổ.”
“Đúng quy củ.”
Lão quản khố nhìn hắn. “Công tử không thấy phiền?”
“Có.”
Tạ Hoài Uyên đáp rất bình thản. “Phiền và sai là hai chuyện.”
Hôm qua, chính hắn cho dập hai bản phả chi, sổ ấn của chi thứ bảy và dòng tên Tạ Tư Hành, rồi gửi sang Hình Đường. Hình Đường đang tra vụ Huyền Cương có một dấu Tạ gia cũ xuất hiện trên thẻ chuyển tuyến. Khi nhận được bằng chứng rằng dấu ấy từng tồn tại thật, lại gắn với một nhánh phả đã bị sửa qua nhiều đời giấy, họ không thể tiếp tục coi Tây viện như một kho gia đình không liên quan vụ án.
Nếu hôm nay Hình Đường vẫn để hắn tùy ý lật sổ, mang giấy ra vào mà không ghi ai chạm vào thứ gì, Tạ Hoài Uyên mới phải nghi ngờ cách họ làm việc.
Cổ tay phải của hắn không đau. Giới hạn y tu đặt từ trước vẫn chưa có lý do để đem ra dùng. Tạ Hoài Uyên cũng không mang kiếm khỏi vỏ. Việc trước mắt cần mắt, giấy và người chịu ghi tên mình dưới một lựa chọn; lưỡi kiếm không giúp được gì.
“Người Hình Đường đâu?” hắn hỏi.
“Ở gian trước.”
Tạ Hoài Uyên đi qua sân.
Người chờ hắn không phải trưởng bối lớn tuổi. Chỉ là một chấp sự Hình Đường tầm ba mươi, áo xám viền đen, trước mặt đặt ba tờ công văn và một hộp gỗ dài. Tạ Hoài Uyên từng gặp người này một lần ở Quy Tàng, không nhớ tên. Người kia thì nhớ hắn.
“Tạ sư đệ.”
“Chấp sự.”
“Ngồi.”
Tạ Hoài Uyên ngồi xuống đối diện.
Chấp sự đẩy tờ công văn đầu tiên sang. “Hình Đường nhận đủ bản dập hôm qua. Dấu chi thứ bảy có thể xác nhận bằng sổ cũ. Từ giờ, những quyển đã đối chiếu thuộc phần chứng cứ liên quan vụ tổn ấn hai trăm mười bảy. Chúng ta niêm tại chỗ, chưa mang đi.”
“Vì sao chưa mang?”
“Giấy cũ. Vận chuyển dễ hỏng.”
“Còn lý do khác?”
Người kia nhìn hắn một nhịp rồi nói thẳng: “Tạ gia chưa được xác định là bên bị tra. Mang gia phả khỏi Tây viện lúc này tạo nhiều chuyện hơn giá trị nó đem lại.”
Tạ Hoài Uyên gật đầu.
Cách nói này hắn thích hơn lời an ủi.
Chấp sự đặt ngón tay lên tờ thứ hai. “Nhưng có một việc cần ngươi quyết.”
“Ta?”
“Ngươi là người gửi đầu mối và là người của Tạ gia có mặt tại Tây Uyên. Hình Đường có thể chỉ lấy phần chứng cứ trực tiếp liên quan thẻ chuyển tuyến: sổ ấn, dấu chi thứ bảy, trang công việc của Tạ Tư Hành. Phần phả chi bị sửa có thể để lại dưới danh nghĩa gia sự cho tới khi có lý do rõ hơn.”
Tạ Hoài Uyên không trả lời ngay.
Người kia tiếp: “Nếu ngươi yêu cầu nhập luôn hai bản phả vào hồ sơ vụ án, Hình Đường sẽ sao niêm và lập đối chiếu chính thức. Từ lúc đó, việc chi thứ bảy bị sửa không còn là chuyện chỉ Tạ gia tự xử trong nhà.”
Đây mới là lựa chọn.
Không lớn tới mức làm cả Quy Tàng rung chuyển. Cũng không nhỏ tới mức ký xong có thể coi như chưa từng xảy ra.
Một gia phả bị sửa không nhất thiết là tội. Có thể là tranh chấp thừa kế đã được giải quyết từ hai trăm năm trước. Có thể một nhánh bị trục khỏi tộc vì lý do đủ hợp pháp vào thời ấy. Có thể bản sao qua nhiều đời sai chồng lên sai. Nếu Tạ Hoài Uyên giữ hai bản phả ngoài hồ sơ Hình Đường, hắn vẫn có thể tiếp tục tra riêng. Tìm được gì thì sau này chọn thứ đáng đưa ra.
Lợi thế rất rõ.
Hắn giữ được quyền quyết định người ngoài sẽ biết tới đâu.
Đời trước, Tạ Hoài Uyên đã dùng cách này không ít lần.
Không hẳn để che sai. Nhiều khi chỉ vì hắn tin một thông tin còn chưa đủ rõ thì không nên đặt vào tay người không biết trọng lượng của nó. Người ta có thể nhìn một dòng bị cạo, tự biến nó thành án diệt chi; nhìn một cái tên mất khỏi sổ, tự dựng ra phản bội; nhìn một dấu cũ xuất hiện trong vụ Huyền Cương, lập tức nói Tạ gia đã giấu một bàn tay qua mấy trăm năm.
Giữ lại cho tới khi có đủ đường nối từng là cách hắn giảm nhiễu.
Cũng là cách khiến mọi đường nối cuối cùng đều phải đi qua hắn.
Tạ Hoài Uyên nhìn tờ công văn.
Hôm qua, hắn đã viết cho Hình Đường: giấy bị sửa nhiều hơn một lần. Không viết tại sao. Không viết ai sửa. Đó là giới hạn của bằng chứng.
Hôm nay câu hỏi khác.
Không phải có nên suy đoán hay không.
Mà là ai được quyền kiểm tra cùng một vật thật.
“Nhập hai bản phả,” Tạ Hoài Uyên nói.
Chấp sự Hình Đường không lập tức cầm bút. “Ngươi chắc?”
“Ta không đưa suy đoán.”
“Ta hỏi chuyện gia phả.”
“Ta cũng đang nói chuyện gia phả.” Tạ Hoài Uyên đặt ngón tay lên tờ công văn. “Nếu chỉ mình Tạ gia giữ bản bị bôi và bản bị cạo, về sau bất kỳ kết luận nào từ đó đều có thể bị nói là chúng ta chọn giấy có lợi rồi mới đưa ra. Hình Đường lập bản sao, ghi ngày, ghi người chạm vào. Phần nào chưa biết thì ghi chưa biết.”
Chấp sự nhìn hắn lâu hơn một chút.
“Tạ gia có thể không thích.”
“Ta cũng là Tạ gia.”
“Không phải toàn bộ.”
“May là vậy.”
Người kia khựng một nhịp, rồi cười rất ngắn. “Ta sẽ ghi đúng câu trước, không ghi câu sau.”
“Cảm ơn.”
Tạ Hoài Uyên cầm bút.
Hắn ký tên dưới dòng yêu cầu đưa hai bản phả vào phạm vi đối chiếu chính thức.
Mực thấm vào giấy nhanh hơn hắn tưởng.
Không có tiếng gì thay đổi trong sân. Lão quản khố ngoài kia vẫn đang quét lá. Một chiếc xe chở rau đi ngang ngõ sau. Mái ngói cũ vẫn nhỏ từng giọt nước đọng từ trận mưa đêm.
Nhưng từ lúc tên hắn nằm dưới công văn, chi thứ bảy không còn chỉ là một câu hỏi hắn có thể gấp vào tay áo.
Hình Đường mở niêm với ba người có mặt.
Chấp sự Hình Đường, lão quản khố Tây viện và Tạ Hoài Uyên.
Mỗi lần lấy một quyển khỏi hòm, người Hình Đường đọc tên quyển, niên đại ước chừng và tình trạng mép giấy. Lão quản khố xác nhận. Tạ Hoài Uyên chỉ đứng xem cho tới khi đúng hai bản phả được đặt lên tấm vải sạch giữa bàn.
Không ai dùng linh thuật soi giấy.
Giấy hơn hai trăm năm không phải thứ để một tu sĩ tiện tay rót linh lực vào chỉ vì nghĩ mình kiểm soát tốt. Hình Đường dùng ánh sáng nghiêng, tấm kê sẫm và kính đá mài phẳng. Cách làm chậm, nhưng ít tạo thêm dấu mới lên vật cũ.
Bản thứ nhất vẫn như hôm qua.
Tạ Cảnh Du.
Nét nối xuống.
Dòng phía dưới bị mực đen phủ.
Bản thứ hai, muộn hơn vài chục năm, đã cạo dòng con và thêm hai chữ “tuyệt tự”.
Chấp sự Hình Đường không hỏi “ai làm”. Hắn hỏi lão quản khố:
“Có sổ ghi lúc hai bản này vào Tây viện không?”
“Có thể.”
“Có thể nghĩa là?”
“Kho này không chỉ có phả. Thứ chuyển tới theo từng đợt, có năm ghi cả hòm, có năm ghi từng quyển.”
“Lấy sổ nhập khố của hai khoảng thời gian.”
Lão quản khố quay sang Tạ Hoài Uyên theo thói quen.
Tạ Hoài Uyên không gật thay Hình Đường.
“Kho đang niêm,” hắn nói. “Hôm nay chấp sự hỏi.”
Lão quản khố nhìn hắn một lát rồi quay sang người áo xám. “Ta tìm.”
Một thay đổi nhỏ.
Nhưng Tạ Hoài Uyên nhận ra nó.
Hôm qua, hắn là người điều khiển nhịp tra sổ trong Tây viện. Hôm nay hắn đã tự ký để một phần quyền ấy chuyển sang người khác. Nếu muốn có một chuỗi chứng cứ không chỉ mình hắn tin, giá đầu tiên chính là chấp nhận mình không còn đứng ở giữa mọi cánh cửa.
Hai quyển sổ nhập khố được mang ra sau gần một khắc.
Quyển cũ hơn hỏng nhiều. Gáy đã thay dây hai lần, một góc bị mối ăn. Nhưng phần năm tháng cần tìm còn đọc được. Người Hình Đường lật từng mục bằng một que tre mỏng.
“Tạ Cảnh Du.”
Không có.
“Chi thứ bảy.”
Có một hòm ghi chung: phả chi, khế tuyến, sổ người trực — bắc tuyến.
Không ghi từng quyển.
Bên cạnh có tên người giao.
Không phải Tạ Tư Hành.
Là một quản sự khác đã chết từ lâu.
Chấp sự Hình Đường đánh dấu vào bản chép. “Bản phả cũ vào Tây viện cùng một hòm giấy tuyến.”
Tạ Hoài Uyên nhìn bốn chữ “sổ người trực”.
“Có sổ người trực cùng đợt ấy còn giữ không?”
“Không chắc.” Lão quản khố đáp.
Chấp sự Hình Đường nói: “Tìm sau. Trước hết bản muộn hơn.”
Quyển nhập khố thứ hai sạch hơn. Mỗi mục đã bắt đầu ghi chi tiết hơn, có ngày nhận, người giao và nơi chuyển tới.
Bản phả có chữ “tuyệt tự” được ghi ở đây.
Lão quản khố đọc nhỏ:
“Bản sao phả chi thứ bảy, làm lại theo bản chỉnh từ từ đường chính. Người giao...”
Ông dừng.
Chấp sự Hình Đường ngẩng lên. “Đọc.”
“Không có tên.”
Tạ Hoài Uyên nghiêng người.
Dòng “người giao” không để trắng.
Nó bị cắt khỏi giấy.
Một mảnh rất hẹp, chỉ rộng hai ngón tay, được rọc thẳng từ mép ngoài vào đúng phần tên rồi dừng. Những dòng trên dưới vẫn nguyên. Người làm không cần lấy cả trang; chỉ lấy đúng ô chứa người giao.
Lão quản khố nói: “Hôm qua ta không thấy.”
“Vì hôm qua chúng ta nhìn bản phả, không nhìn sổ nhập.” Tạ Hoài Uyên đáp.
Chấp sự Hình Đường đặt kính đá lên chỗ cắt.
Mép giấy không mới.
Không ai trong phòng nói điều hiển nhiên: đã có thêm một lần xóa khác.
Hắn chỉ hỏi: “Quyển này có bản sao?”
Lão quản khố lắc đầu. “Ta chưa từng thấy.”
“Có sổ xuất?”
“Có.”
“Lấy.”
Lần này lão quản khố đi nhanh hơn.
Tạ Hoài Uyên nhìn đường rọc thẳng trên giấy.
Bôi mực.
Cạo chữ.
Cắt ô tên.
Ba cách khác nhau, nằm trên ba loại giấy, ở ba thời điểm.
Nếu tất cả đều cùng nhằm che một người thì công sức kéo dài quá lâu. Nếu không cùng một mục đích, việc chi thứ bảy bị sửa nhiều lần có thể chỉ là những người khác nhau dọn phần thừa theo nhu cầu riêng.
Cả hai đều chưa đủ để chọn.
Chấp sự Hình Đường nói: “Ngươi đang nghĩ gì?”
“Ba cách sửa không giống nhau.”
“Còn?”
“Không biết có cùng người, cùng đời hay cùng mục đích.”
“Được.”
Người kia ghi đúng một câu: phương thức can thiệp khác nhau; chưa xác định liên hệ giữa các lần sửa.
Tạ Hoài Uyên nhìn nét bút.
Cảm giác lạ không nằm ở việc người khác viết suy nghĩ của hắn xuống giấy.
Nằm ở việc câu ấy không cần tên hắn để có trọng lượng.
Sổ xuất khố không cho câu trả lời họ muốn.
Nó cho một câu hỏi khác.
Trong năm bản phả “tuyệt tự” được đưa vào Tây viện, có một bó giấy cũ được chuyển ngược ra ngoài ba tháng sau. Mục ghi chỉ viết: bản đo tây tuyến, sổ cấu kiện, ba quyển khế hết hiệu lực.
Nơi nhận: thư khố tuyến của Tây Uyên.
Người nhận phía Tây Uyên có tên.
Người giao phía Tạ gia lại chỉ ghi một dấu.
Không phải dấu chi thứ bảy.
Cũng không phải dấu phụ trên thẻ Huyền Cương hiện tại.
Chỉ là một vết xác nhận hình chữ nhật nhỏ, loại dùng cho người giao việc thay mặt viện.
Chấp sự Hình Đường nhìn một lúc rồi hỏi: “Bản đo tây tuyến có phải thứ Tạ Tư Hành từng kiểm?”
“Chưa biết.” Tạ Hoài Uyên đáp.
“Ta tưởng sổ việc ghi hắn kiểm cấu kiện tuyến tây.”
“Kiểm cấu kiện không đồng nghĩa hắn vẽ mọi bản đo của tuyến.”
“Đúng.”
Người kia gạch một dấu nhỏ bên cạnh, không nối hai việc.
Lão quản khố bỗng nói: “Nhưng có thể tìm năm.”
Hai người cùng nhìn ông.
Lão kéo sổ việc hôm qua lại gần, lật tới dòng Tạ Tư Hành.
Tạ Tư Hành — nhận việc kiểm cấu kiện tuyến tây, kỳ thu.
Ở góc trang có một ký hiệu niên kỳ. Không ghi năm bằng số, mà dùng tên đợt tu sửa của tuyến.
Lão quản khố đưa ngón tay sang sổ xuất.
Bó “bản đo tây tuyến, sổ cấu kiện” được chuyển sang thư khố Tây Uyên trong chính đợt tu sửa ấy.
Chấp sự Hình Đường ngồi thẳng hơn.
“Cùng đợt.”
“Cùng đợt,” Tạ Hoài Uyên xác nhận. “Chưa chắc cùng bó.”
“Ta biết.”
“Ta nhắc để khỏi lát nữa chính ta quên.”
Người kia nhìn hắn. “Ta bắt đầu hiểu vì sao ngươi gửi cho Hình Đường một lá thư chỉ có ba câu.”
“Ít chữ dễ kiểm.”
“Cũng dễ làm người nhận bực.”
“Tác dụng phụ.”
Chấp sự Hình Đường đóng sổ lại. “Tốt. Vậy đi thư khố Tây Uyên.”
Lão quản khố hỏi: “Ngay hôm nay?”
“Ngay hôm nay.”
Tạ Hoài Uyên không đứng dậy.
Chấp sự nhìn hắn. “Có vấn đề?”
“Có.”
“Gì?”
“Ngươi định mang gì theo?”
“Một bản dập dòng Tạ Tư Hành, bản sao mục xuất khố và công văn Hình Đường.”
“Phả chi?”
“Không cần.”
“Dấu chi thứ bảy?”
“Chưa cần.”
Tạ Hoài Uyên đứng lên. “Vậy đi.”
Người kia nhướng mày. “Nếu ta nói mang cả phả?”
“Ta sẽ hỏi vì sao.”
“Rồi nếu lý do đủ?”
“Thì mang bản sao niêm, không mang bản gốc.”
Chấp sự cười. “Ít nhất ngươi chưa giao cả nhà cho Hình Đường.”
“Ta chỉ giao phần có người khác cần được quyền kiểm.”
Câu trả lời ra khỏi miệng, Tạ Hoài Uyên mới nhận ra mình đã chọn được ranh giới rõ hơn hôm qua.
Không phải mở hết.
Cũng không phải giữ hết.
Vật nào đã trở thành mắt xích của một việc chung, phải để nó đứng được khi rời khỏi tay mình.
Thư khố tuyến của Tây Uyên nằm cạnh nhà công vụ phía nam, không lớn bằng kho Tạ thị nhưng đông người hơn nhiều. Ở đây cất giấy về đường, giếng, cầu, trạm nghỉ, bản sửa kè và những lần đổi mốc. Một phần sổ không thuộc bí mật của tông môn nào, nhưng cũng không phải ai muốn vào xem đều được.
Công văn Hình Đường giúp họ qua cửa thứ nhất.
Qua cửa thứ hai cần người Tây Uyên chịu trách nhiệm.
Hàn Tố Nghi không có mặt. Người trực xem giấy, xem tên Tạ Hoài Uyên, rồi nói:
“Hôm nay Vô Tướng cũng xin đối chiếu bản sửa cũ.”
Tạ Hoài Uyên không hỏi ai.
Chấp sự Hình Đường hỏi: “Liên quan cùng bó?”
“Không biết. Họ hỏi các điểm chuyển phía bắc và ký hiệu trên bản sửa. Các vị hỏi bản đo tây tuyến cùng sổ cấu kiện.”
“Có xung đột không?”
“Có thể cùng nằm trong một hòm.”
Người trực kéo một thẻ gỗ từ giá. “Nếu cùng hòm, mỗi lần chỉ mở cho một nhóm. Ai tới trước?”
“Họ.”
“Vậy chúng ta chờ.”
Chấp sự Hình Đường không tranh.
Tạ Hoài Uyên cũng không.
Hắn ngồi xuống ghế dài ngoài hành lang. Nắng cuối buổi sáng cắt qua song cửa thành những vệt sáng vuông trên nền. Bên trong, người thư khố đi qua đi lại, tiếng hòm gỗ kéo trên mặt đá vang khô.
Một khắc sau, cửa trong mở.
Tề Mặc đi ra trước, tay cầm ba tờ bản dập. Lạc Hành Chu theo sau, không cầm gì ngoài một tờ ghi nhỏ.
Hai bên dừng lại vì hành lang quá hẹp để giả vờ không nhìn thấy nhau.
Tề Mặc nhìn chấp sự Hình Đường, rồi nhìn Tạ Hoài Uyên.
“Hình Đường?”
“Tra việc cũ.” Chấp sự đáp.
“Chúng ta xong rồi.”
Tề Mặc nhường đường.
Không ai cần giới thiệu.
Lạc Hành Chu đứng lệch sang một bên. Ánh mắt hắn lướt qua hộp gỗ trong tay chấp sự Hình Đường, dừng đúng một nhịp ở bản dập lộ mép rồi rời đi.
Tạ Hoài Uyên thấy.
Hắn không che hộp.
Cũng không mở ra.
Nếu Lạc Hành Chu muốn biết, hắn có thể hỏi. Nếu không hỏi, Tạ Hoài Uyên không có lý do chủ động biến một lần gặp ngoài hành lang thành buổi trao đổi bí mật.
Lạc Hành Chu quả nhiên chỉ nói: “Tạ đạo hữu.”
“Lạc đạo hữu.”
Tề Mặc đã đi được hai bước, quay lại. “Ngươi còn đứng đó làm gì?”
“Nhường đường.”
“Đường đủ rộng.”
Lạc Hành Chu nhìn khoảng trống giữa hai bên. “Bây giờ đủ.”
Tề Mặc không có vẻ muốn hiểu câu ấy sâu hơn. “Đi.”
Hai người Vô Tướng rời hành lang.
Chấp sự Hình Đường chờ tới khi tiếng chân họ khuất rồi hỏi: “Ngươi biết họ tra gì?”
“Không.”
“Không tò mò?”
“Có.”
“Vậy sao không hỏi?”
Tạ Hoài Uyên nhìn cửa thư khố đang mở lại trước mặt.
“Vì ta đang tra việc của mình.”
Người kia bật cười. “Tạ gia dạy người giữ miệng tốt thật.”
“Không. Có người trong nhà nói rất nhiều.”
“Ngươi thì không.”
Tạ Hoài Uyên không đáp.
Hắn biết một câu hỏi chỉ đáng hỏi khi mình sẵn sàng chịu hậu quả của việc người kia biết mình đang hỏi gì.
Hiện giờ chưa cần.
Hòm họ cần đúng là hòm Vô Tướng vừa xem.
Nhưng bó giấy của Hình Đường nằm ở ngăn dưới, buộc bằng dây gai đã đổi màu. Trên thẻ ngoài hòm có ba lượt ghi khác mực. Lượt đầu gọi nó là tây tuyến cũ. Lượt thứ hai đổi thành cấu kiện và điểm chuyển. Lượt thứ ba chỉ ghi bản tham khảo, không dùng mở tuyến.
Người trực thư khố nói: “Lần cuối sửa tên đã hơn trăm năm.”
“Vì sao đổi?” chấp sự Hình Đường hỏi.
“Không ghi.”
Hắn mở bó giấy.
Quyển đầu là bản đo kè.
Quyển thứ hai ghi cấu kiện kim loại chôn vào nền, phần lớn đã tháo hoặc mất vị trí.
Quyển thứ ba mỏng nhất.
Bìa không có tên.
Chỉ có một dấu hình ba nét mảnh cùng dừng trước một góc hở.
Tạ Hoài Uyên không chạm vào nó.
Chấp sự Hình Đường nhìn hắn. “Giống bản dập hôm qua?”
“Giống cấu trúc.”
“Không phải cùng dấu?”
“Chưa đo.”
“Được.”
Người kia gọi người thư khố lấy thước mảnh và giấy trong để dập lại.
Tạ Hoài Uyên mở trang đầu bằng que tre.
Trang đầu không phải gia phả.
Không phải khế.
Là một danh sách người từng nhận kiểm các “điểm chuyển” dọc tây tuyến.
Nhiều tên đã nhòe.
Ở giữa trang, hắn thấy ba chữ.
Tạ Tư Hành.
Không ghi “Tạ thị”.
Không ghi chi thứ bảy.
Chỉ có tên.
Bên cạnh là hai chữ nhỏ: đối chiếu.
Dòng dưới ghi một người khác của Tây Uyên.
Dòng trên là một trận tu Vô Tướng đời cũ.
Tạ Tư Hành đứng giữa hai cái tên thuộc hai nơi khác nhau như một người làm việc trên tuyến, không như người đại diện gia tộc.
Chấp sự Hình Đường nói: “Lần thứ hai thấy tên hắn trong giấy Tây Uyên.”
“Lần thứ hai chúng ta thấy.” Tạ Hoài Uyên sửa. “Không biết còn bao nhiêu.”
Người kia gật đầu.
Họ lật tiếp.
Trang thứ tư có một bảng đối chiếu ký hiệu. Phần lớn là những dấu Tạ Hoài Uyên không hiểu hết vì chúng thuộc công việc cấu kiện, không phải kiếm. Ba nét góc hở xuất hiện ở một cột riêng.
Tên cột đã mất một nửa vì mép giấy rách.
Chỉ còn hai chữ cuối.
... chuyển.
Không đủ biết là “điểm chuyển”, “mạch chuyển”, “trụ chuyển” hay một thứ khác.
Tạ Hoài Uyên nhìn khoảng giấy mất.
Lần này không ai cạo.
Mép rách xơ, lan qua cả dòng trên và dưới. Hư hỏng tự nhiên có hình dạng khác với vết người cố lấy đúng một cái tên.
Chấp sự Hình Đường cũng thấy.
“Chỗ này không tính là xóa.”
“Ừ.”
Một trang sau nữa có ngày.
Không phải ngày Tạ Tư Hành chết.
Là ngày bó giấy được kiểm lại lần cuối trước khi chuyển vào thư khố Tây Uyên.
Ngày ấy muộn hơn dòng công việc của Tạ Tư Hành mười một năm.
Bên cạnh danh sách kiểm lại, tên Tạ Tư Hành không còn.
Nhưng có một câu ghi chú:
Tên cũ không đủ đối chiếu nhân thân, giữ dấu công việc, bỏ thuộc chi.
Căn phòng im đi.
Tạ Hoài Uyên đọc lại từng chữ.
Không phải “xóa người”.
Không phải “tuyệt tự”.
Một câu xử lý sổ rất cụ thể: người sao đời sau không xác định được Tạ Tư Hành thuộc chi nào, nên giữ dấu việc hắn từng làm nhưng bỏ liên kết gia tộc.
Nếu chỉ có câu này, nó thậm chí có thể là việc cẩn thận.
Một người chép sổ không biết thì không nên tự gán.
Nhưng Tạ Hoài Uyên đã thấy bản phả bị bôi trước đó, bản sau bị cạo, ô người giao bị rọc, dấu chi thứ bảy biến mất khỏi chuỗi chuyển ấn. Đặt cạnh nhau, câu “không đủ đối chiếu nhân thân” trở thành một mốc thời gian.
Ít nhất tới lúc Tạ Tư Hành làm việc tại Tây Uyên, tên hắn còn được ghi.
Mười một năm sau, người kiểm sổ đã không còn đủ giấy để đặt hắn trở lại một nhánh Tạ gia.
Quá trình biến mất xảy ra ở giữa.
Tạ Hoài Uyên không cần đoán ai làm để biết mình vừa thu hẹp được khoảng cần tìm.
Chấp sự Hình Đường đặt bút xuống.
“Ta sẽ sao toàn bộ câu này.”
“Ừ.”
“Và trang có tên Tạ Tư Hành.”
“Ừ.”
“Và dấu ba nét.”
Tạ Hoài Uyên nhìn hắn.
“Dấu ba nét chưa chứng minh liên quan tổn ấn.”
“Ta biết.”
“Vậy ghi nó dưới phần phụ lục đối chiếu, không phải chứng cứ trực tiếp.”
Chấp sự nhướng mày. “Ngươi đang dạy Hình Đường lập hồ sơ?”
“Ta đang đề nghị để mai khỏi cãi.”
Người kia nhìn hắn một lúc rồi viết bên lề: phụ lục đối chiếu ký hiệu, liên hệ chưa xác định.
“Được chưa?”
“Được.”
Tạ Hoài Uyên không nói thêm.
Khi họ rời thư khố, trời đã quá giờ Ngọ.
Chấp sự Hình Đường cầm hộp gỗ có các bản sao niêm. Tạ Hoài Uyên đi tay không.
Ở bậc đá ngoài cửa, người kia hỏi:
“Ngươi có muốn giữ một bản câu ghi chú không?”
“Ta có thể xin theo đường Tạ gia?”
“Có.”
“Vậy ta sẽ xin.”
“Ta đang có sẵn.”
“Bản trong tay ngươi thuộc Hình Đường.”
“Khác nhau sao?”
“Khác.”
Tạ Hoài Uyên nhìn hộp gỗ. “Hôm nay ta vừa ký để những thứ thuộc vụ án không chỉ nằm trong tay Tạ gia. Không có lý do sau đó lại lấy bản của Hình Đường làm bản riêng vì tiện.”
Chấp sự im một nhịp.
“Ngươi phiền thật.”
“Ta nghe câu này gần đây khá nhiều.”
“Có lẽ vấn đề nằm ở ngươi.”
“Có thể.”
Người kia bước xuống hai bậc rồi dừng.
“Tạ sư đệ.”
“Ừ?”
“Nếu chuyện chi thứ bảy cuối cùng chỉ là một vụ sửa phả cũ không liên quan Huyền Cương, Hình Đường sẽ trả phần đó về gia sự.”
“Ta biết.”
“Nếu nó liên quan?”
Tạ Hoài Uyên nhìn con đường ngoài thư khố. Người qua lại vẫn đông. Một đoàn xe nhỏ đang dừng ở đầu phố để đổi dây kéo. Phía xa hơn, cờ của trạm Tây Uyên chỉ hiện một góc trên mái nhà.
“Nếu liên quan,” hắn nói, “thì càng không nên chỉ giữ trong nhà.”
Chấp sự không hỏi thêm.
Hắn mang hộp chứng cứ đi về phía nhà công vụ.
Tạ Hoài Uyên đứng lại trước bậc đá.
Trong tay hắn không có bản phả.
Không có bản dập Tạ Tư Hành.
Không có trang ghi câu “tên cũ không đủ đối chiếu nhân thân”.
Những thứ quan trọng nhất sáng nay đều đang ở trong một hộp người khác cầm.
Cảm giác mất quyền kiểm soát rất rõ.
Tạ Hoài Uyên không thích nó.
Hắn cũng không đổi ý.
Có những bí mật cần giữ vì người khác chưa có quyền biết. Có những bằng chứng phải đưa ra vì nếu chỉ một người được quyền nhìn, đến lúc người ấy biến mất, sự thật cũng có thể bị sửa theo.
Tạ Hoài Uyên đã đứng trước đủ nhiều trang giấy bị sửa để không nhầm hai việc đó thành một.
Hắn quay lại nhìn biển thư khố.
Mười một năm.
Đó là khoảng đầu tiên hắn có thể đóng khung quanh việc Tạ Tư Hành mất khỏi liên kết gia tộc.
Không phải đáp án.
Nhưng đã là một đường biên.
Tạ Hoài Uyên bước xuống bậc đá.
Ngày mai, hắn không cần tìm xem ai đã xóa Tạ Tư Hành khỏi mọi nơi.
Trước hết chỉ cần tìm xem trong mười một năm ấy, có thứ gì của chi thứ bảy bị đổi tên, đổi dấu hoặc chuyển khỏi tay Tạ gia.
Và lần này, hắn sẽ không phải là người duy nhất giữ bản ghi.