Chương 10 — Người Không Đứng Đúng Chỗ
CANON v1
Lạc Hành Chu ra khỏi phòng nghị sự rồi mới nhận ra mình vẫn đang nhớ một bước chân.
Không phải câu hỏi xã giao của Tạ Hoài Uyên.
Cũng không phải câu “ta thì còn trẻ” nghe vô hại đến mức gần như cố ý vô hại.
Là nửa bước người kia đã lùi khi nhường đường.
Tề Mặc đi trước hắn ba trượng, thấy phía sau không có tiếng chân thì quay lại.
“Ngươi để quên gì?”
“Không.”
“Vậy đi.”
Lạc Hành Chu đi tiếp.
Khu nghỉ của Vô Tướng nằm ở dãy phía bắc, cách nhà nghị sự một sân đá và hai hành lang thấp. Tây Uyên không xếp phòng theo danh tiếng. Người của Vô Tướng, Quy Tàng, Huyền Lô Thương Minh và mấy đoàn nhỏ hơn đều ở những dãy gần nhau, chỉ tách theo chức trách để sáng hôm sau gọi người cho tiện.
Tề Mặc vừa đi vừa lật tờ ghi chép lúc họp.
“Ngày mai tranh phần số đo.”
“Ta biết.”
“Ta nói trước để ngươi đừng lại nhìn một góc phòng tới quên nghe.”
Lạc Hành Chu nhìn hắn.
Tề Mặc không ngẩng đầu.
“Ta gọi hai lần.”
“Ta nghe cả hai.”
“Lần đầu ngươi không trả lời.”
“Nghe không đồng nghĩa phải trả lời ngay.”
Tề Mặc gấp tờ giấy lại.
“Được. Vậy ngày mai nếu Hàn chấp sự hỏi ngươi có đồng ý giao bản số đo gốc cho Tây Uyên hay không, nhớ đừng chỉ nghe.”
Lạc Hành Chu không đáp.
Hắn thật sự không quên việc đó.
Nhưng Tề Mặc nói đúng một nửa.
Lúc rời phòng, hắn đã nhìn một góc quá lâu.
Trong phòng nghỉ chỉ có một giường, một án gỗ thấp và giá treo áo.
Lạc Hành Chu không mở Tĩnh Thất ngay.
Hắn đặt kiếm lên án, lấy bốn chiếc trận châm thường dùng nhất ra khỏi túi rồi cắm chúng xuống mặt gỗ.
Một chiếc là cột.
Một chiếc là chân án.
Một chiếc là cạnh cửa sổ.
Chiếc cuối cùng là vị trí Tạ Hoài Uyên đã đứng.
Không cần phục dựng toàn bộ căn phòng.
Chỉ bốn điểm ấy đã đủ.
Lạc Hành Chu ngồi xuống.
Đời trước, nhiều năm sau khi hai người đã giao thủ đủ lâu để biết kiếm của đối phương thường đi trước vai hay sau mắt, hắn từng dùng một cấu trúc khóa rất đơn giản để ép Tạ Hoài Uyên đổi đường ra kiếm.
Không phải đại trận.
Cũng không phải tuyệt kỹ gì đáng ghi vào truyền thừa.
Chỉ là tận dụng ba vật cố định quanh chiến trường, khiến khoảng trống nhìn như đường lui thực ra trở thành nơi khó chuyển lực nhất. Kiếm tu càng thích đường thẳng, bước vào càng dễ bị kéo lệch nửa nhịp.
Tạ Hoài Uyên đời trước đã phá nó sau lần thứ hai gặp phải.
Vấn đề là Tạ Hoài Uyên mười tám tuổi hiện tại chưa từng gặp lần thứ nhất.
Lạc Hành Chu dùng đầu ngón tay đẩy chiếc trận châm cuối cùng sang trái nửa tấc.
Đó là chỗ Tạ Hoài Uyên đã tránh.
Rất chính xác.
Chính xác đến mức khó chịu.
Nhưng một chi tiết chính xác không biến thành chân tướng chỉ vì nó khiến người quan sát khó chịu.
Lạc Hành Chu lấy giấy.
Không dùng Vô Tự.
Vô Tự có thể giúp hắn sắp các dấu đã có thành nhiều đường suy diễn. Vấn đề hiện tại không nằm ở việc hắn thiếu cách sắp.
Hắn thiếu dấu.
Đổ một chi tiết vào Vô Tự rồi ép nó sinh thêm khả năng chỉ khiến một hạt cát bị soi thành cả bãi sa mạc.
Lạc Hành Chu viết dòng đầu.
Quy Tàng có truyền thừa tránh khóa trận.
Hợp lý.
Kiếm tu sống lâu không phải nhờ chỉ biết xông thẳng. Quy Tàng là đại tông, có người từng đối đầu trận tu, có kinh nghiệm chọn vị trí. Tạ Hoài Uyên là đệ tử được cử đi Tây Uyên, biết một ít không lạ.
Dòng thứ hai.
Tạ Hoài Uyên từng xem qua cách bố trận của ta.
Không phải đời trước.
Là đời này.
Lạc Hành Chu hiện tại chưa có danh tiếng đủ lớn để Quy Tàng bí mật lập cả án riêng về hắn, nhưng tờ trình Thanh Mạch đã đi qua đường công văn phối hợp. Nếu Tạ Hoài Uyên chủ động xem phần Vô Tướng đã công khai, có thể hắn suy ra thói quen chọn điểm của người viết.
Khả năng thấp hơn dòng đầu, nhưng không bằng không.
Dòng thứ ba.
Ký ức của ta về tuổi mười tám của Tạ Hoài Uyên không đầy đủ.
Lạc Hành Chu dừng bút lâu hơn.
Đây là khả năng dễ bị bỏ qua nhất.
Đời trước, hắn gặp Tạ Hoài Uyên chính thức muộn hơn.
Hắn biết Tạ Hoài Uyên trưởng thành sẽ đứng ở đâu, rút kiếm thế nào, khi nào cố ý để lộ một đường lui và khi nào thật sự muốn rời trận. Nhưng hắn không biết mười tám tuổi Tạ Hoài Uyên đã học những gì trong một gian phòng kín ở Quy Tàng, cũng không biết vị trưởng bối nào từng tiện miệng chỉ hắn một nguyên tắc mà sau này trở thành bản năng.
Con người không bắt đầu tồn tại từ ngày mình gặp họ.
Dòng thứ tư.
Có người khác đã dạy hắn một nhánh ta không biết.
Cũng hợp lý.
Quy Tàng không chỉ có kiếm.
Tạ gia cũng không chỉ có Tạ Hoài Uyên.
Lạc Hành Chu đặt bút xuống.
Bốn dòng.
Không dòng nào cần tới một giả thiết quá lớn.
Hắn nhìn chiếc trận châm đại diện cho Tạ Hoài Uyên.
Một ý nghĩ khác đứng ngoài mép giấy.
Lạc Hành Chu không viết.
Không phải vì nó đáng sợ.
Mà vì hiện giờ nó không đáng được ưu tiên hơn bốn dòng trước.
Hắn từng sống đủ lâu để biết con người rất dễ yêu một đáp án có thể giải thích mọi thứ cùng lúc. Đáp án càng đẹp, càng nên để nó chờ ngoài cửa cho tới khi có bằng chứng mời vào.
Lạc Hành Chu nhổ bốn chiếc trận châm lên.
Khi cất chiếc cuối cùng, hắn chợt nhớ câu Tạ Hoài Uyên nói.
Người sợ bị giữ lại thường vậy.
Nếu chỉ là ứng đối, câu ấy khá nhanh.
Nếu là thăm dò, cũng khá thẳng.
Nếu người kia thật sự chỉ muốn nhường đường—
Lạc Hành Chu đóng hộp châm lại.
Khả năng này không cần viết.
Tạ Hoài Uyên rất ít khi chỉ làm một việc vì một lý do.
Điểm ấy hắn có đủ bằng chứng từ đời trước.
Sáng hôm sau, Hàn Tố Nghi mang vào phòng họp ba hộp gỗ.
Nàng đặt chúng lên bàn giữa phòng.
“Ba bản.”
Một vị chấp sự Quy Tàng hỏi: “Bản gì?”
“Bản quy củ để ngày mai khỏi cãi lại từ đầu.”
Hàn Tố Nghi mở nắp hộp thứ nhất.
Bên trong là một xấp giấy mới, mép còn chưa ép phẳng.
“Bản thứ nhất ghi ai được đo.”
Hộp thứ hai.
“Ai được giữ số đo.”
Hộp thứ ba.
“Ai trả giá nếu đo xong làm hỏng đường, giếng, ruộng hoặc khiến một trạm hộ tuyến phải đóng.”
Nàng nhìn quanh bàn.
“Các vị chọn cãi từ hộp nào trước?”
Không ai trả lời ngay.
Lạc Hành Chu ngồi bên trái Tề Mặc.
Phía đối diện là người Quy Tàng. Tạ Hoài Uyên không ngồi ở vị trí có quyền phát biểu đầu tiên; hắn chỉ là người phụ trách thực địa trong đoàn. Nhưng chỗ hắn chọn vẫn nằm lệch khỏi đường thẳng nối cửa, cột giữa phòng và mép bàn.
Lần này không có gì đáng chú ý.
Hoặc có thể vì Lạc Hành Chu đã bắt đầu chú ý nên mọi vị trí đều dễ trở thành đáng chú ý.
Hắn thu mắt lại trước khi tự tạo thêm dấu giả.
Người của Vô Tướng mở hộp thứ nhất.
“Chúng ta cần đặt lại một số trụ trắc ở vùng tây nam và trung tuyến.”
Hàn Tố Nghi hỏi: “Sâu bao nhiêu?”
“Chưa chốt. Tùy địa tầng.”
“Vậy chưa ghi ‘đặt trụ’. Ghi ‘xin phép khảo sát vị trí có thể đặt trụ’.”
Một trận sư Vô Tướng cau mày.
“Nếu mỗi lần đổi sâu một thước cũng phải xin lại—”
“Không cần.” Hàn Tố Nghi đáp. “Các vị đưa khoảng từ đâu đến đâu. Tây Uyên duyệt khoảng. Nếu vượt khoảng, xin lại.”
“Lỡ thực địa không cho phép?”
“Thì dừng.”
“Dừng giữa phép đo sẽ mất công.”
“Đào vào giếng của người ta cũng mất công sửa.”
Căn phòng yên một nhịp.
Người của Huyền Lô Thương Minh ngồi cuối bàn khẽ ho một tiếng, rồi cúi xuống xem giấy như thể từ đầu tới cuối mình chỉ quan tâm giấy.
Tề Mặc cầm bút.
“Ghi khoảng.”
Hắn quay sang Lạc Hành Chu.
“Điểm tây nam?”
“Chỉ cần nông trước.”
“Lý do?”
“Chúng ta chưa biết lớp dưới có cùng mạch hướng với điểm trong viện.”
Tề Mặc gật đầu, ghi lại.
Không ai hỏi “vì sao không đo sâu cho chắc”.
Hàn Tố Nghi đã hỏi bằng cách khác từ hôm qua: ai chịu hậu quả nếu sai.
Hộp thứ nhất tạm qua.
Hộp thứ hai mới thật sự khó.
Một trưởng bối Vô Tướng nói: “Số ghi bằng trận trụ của Vô Tướng cần giữ nguyên bản tại viện để đối chiếu.”
Hàn Tố Nghi đáp: “Một bản ở viện, một bản ở Tây Uyên.”
“Phép diễn tính của chúng ta không thể lưu ngoài viện.”
“Ta không hỏi phép diễn.”
“Nhưng số gốc nếu tách khỏi cách đọc rất dễ bị hiểu sai.”
“Vậy các vị ghi rõ điều kiện lúc đo.”
“Người không hiểu trận lý vẫn có thể dùng sai.”
Hàn Tố Nghi nhìn ông ta.
“Người hiểu trận lý cũng có thể dùng sai.”
Không khí trong phòng khựng lại.
Lạc Hành Chu nhìn xuống giấy.
Câu này không nhắm riêng Vô Tướng.
Và vì thế càng khó phản bác.
Một vị quản sự Huyền Lô lên tiếng: “Thương Minh không cần biết bí pháp Vô Tướng. Chúng ta cần mốc đủ để quyết định có nên đưa khí cụ khai khoáng vào hay không. Nếu mỗi lần muốn kiểm lại đều phải xin người từ Vô Tướng xuống, việc chờ người còn lâu hơn sửa đường.”
Trưởng bối Vô Tướng nói: “Tự kiểm bằng pháp khí khác sẽ làm mất tính đối chiếu.”
“Vậy cho một cách kiểm ngoài.”
“Không đơn giản.”
“Không đơn giản không có nghĩa không cần.”
Hàn Tố Nghi không chen vào.
Nàng để hai bên nói tới khi cùng nhận ra họ đang đi vòng một chỗ.
Lạc Hành Chu đưa tay lấy một tờ giấy trắng.
“Có thể tách hai việc.”
Mấy người nhìn sang.
Hắn nói: “Số đo gốc để ba bản. Vô Tướng, Tây Uyên, bên phụ trách tuyến thực địa mỗi bên giữ một bản có cùng ấn thời điểm.”
Chấp sự Quy Tàng nhướng mày.
“Quy Tàng giữ?”
“Bên phụ trách tuyến tại điểm đó giữ. Không mặc định là Quy Tàng.”
Hàn Tố Nghi nhìn hắn thêm một nhịp.
Lạc Hành Chu tiếp tục: “Cách Vô Tướng diễn tính từ số đó vẫn thuộc Vô Tướng. Nhưng lần đo nào dùng làm căn cứ đổi tuyến, đóng trụ hoặc khai thác thì phải ghi điều kiện lúc đo để bên khác có thể kiểm xem hoàn cảnh đã đổi hay chưa.”
Quản sự Huyền Lô hỏi: “Nếu chúng ta muốn đo lại?”
“Có thể xin đo lại bằng pháp khí của mình.”
Trưởng bối Vô Tướng lập tức nói: “Kết quả không được nhập chung với bản Vô Tướng nếu quy cách khác.”
“Không nhập chung.”
Lạc Hành Chu đáp. “Đặt cạnh nhau.”
“Rồi ai quyết cái nào đúng?”
“Không ai quyết chỉ bằng tên tông môn.”
Lạc Hành Chu nhìn hai tờ giấy trên bàn.
“Nếu khác nhau đủ để làm thay đổi quyết định, đo lần thứ ba với người của cả hai bên có mặt.”
Tề Mặc không nói gì.
Nhưng ngón tay đang giữ bút của hắn dừng lại, rõ ràng là chấp nhận để ý tưởng chạy hết đường.
Hàn Tố Nghi hỏi: “Ai có quyền yêu cầu lần thứ ba?”
“Bên phải chịu hậu quả từ quyết định.”
“Rộng quá.”
Lạc Hành Chu im.
Hàn Tố Nghi dùng đầu bút gõ lên giấy.
“Nếu một thương hội nói giá quặng của họ sẽ đổi, họ cũng là bên chịu hậu quả. Nếu một tông môn nói danh tiếng họ sẽ tổn, họ cũng có thể tự nhận là chịu hậu quả. Ghi thế này thì ngày nào cũng đo lần thứ ba.”
Nàng kéo tờ giấy về phía mình.
“Viết lại.”
Lạc Hành Chu không tranh.
Đề xuất có chỗ hở thì sửa chỗ hở.
Đó là việc bình thường.
Một giọng từ phía đối diện vang lên.
“Có thể giới hạn bằng quyền đang bị tác động.”
Tạ Hoài Uyên.
Hắn không nhìn Lạc Hành Chu, mắt vẫn đặt trên tấm bản đồ ở giữa bàn.
“Nếu số đo được dùng để thay đổi đường vận, người giữ đường và Tây Uyên có quyền yêu cầu kiểm lại. Nếu dùng để cho phép khai thác, Tây Uyên và bên nhận quyền khai thác có quyền. Nếu chỉ là nghiên cứu trong phạm vi đã duyệt, Vô Tướng tự chịu.”
Quản sự Huyền Lô gật đầu trước.
“Cách này dùng được.”
Lạc Hành Chu nhìn Tạ Hoài Uyên.
Lập luận không lạ.
Một người hiểu khế ước tuyến có thể nói như vậy.
Trong danh sách phối hợp, Tạ Hoài Uyên phụ trách hộ tuyến thực địa. Một người được đặt vào vị trí ấy hiểu khế ước và quyền giữ đường không lạ.
Dấu hợp lý.
Không tính là bất thường.
Hàn Tố Nghi lại gõ bút.
“Thiếu một đoạn.”
Tạ Hoài Uyên hỏi: “Đoạn nào?”
“Nếu các vị đo tới mức đường phải đóng nửa ngày, ai quyết nửa ngày ấy đáng hay không?”
Chấp sự Quy Tàng đáp: “Nếu là tuyến hộ vận, người phụ trách hộ tuyến phải có quyền dừng khảo sát.”
“Không.”
Hàn Tố Nghi nói ngay.
“Người hộ tuyến có quyền báo nguy và yêu cầu dừng khẩn cấp. Không có quyền tự biến quyền bảo vệ đường thành quyền quyết định đất này được đo đến đâu.”
Nàng quay sang Lạc Hành Chu.
“Vô Tướng cũng vậy. Người đo có quyền nói tiếp tục sẽ sai hoặc nguy hiểm. Không có quyền vì đã dựng trận trụ rồi mà bắt cả tuyến chờ cho đủ một chu thiên.”
Rồi nàng nhìn quản sự Huyền Lô.
“Các vị càng không có quyền nói đã chở khí cụ tới thì phải cho làm đủ để khỏi lỗ chuyến.”
Người kia thở dài.
“Hàn chấp sự, ta còn chưa nói.”
“Ta biết. Nói trước cho đỡ mất thời gian.”
Ở góc bàn, có người bật cười rồi lập tức cúi đầu.
Lạc Hành Chu cũng không nhìn sang.
Hắn sửa dòng vừa viết.
Quyền dừng khẩn cấp không đồng nghĩa quyền quyết định cuối.
Đây là điểm hắn đồng ý.
Cũng là điểm Vô Tướng rất dễ quên nếu chỉ nhìn một nút mạch như một bài toán.
Một trận có thể hoàn mỹ mà người dựng trận vẫn sai.
Vì đất dưới trận không phải giấy.
Phiên bàn kéo dài qua giờ Ngọ.
Đến khi mọi người đứng dậy, ba hộp gỗ đã thành sáu xấp giấy sửa đi sửa lại.
Không ai thắng.
Ít nhất không ai thắng đủ để người còn lại phải chịu hết hậu quả.
Lạc Hành Chu thu tờ ghi của mình.
Tạ Hoài Uyên đứng phía bên kia bàn, đang nói với chấp sự Quy Tàng về đoạn trung tuyến. Hắn dùng đầu ngón tay chỉ một chỗ trên bản đồ rồi lập tức rút lại, không chạm vào thẻ đỏ đánh dấu khu dân cư.
Một cử chỉ nhỏ.
Lạc Hành Chu tự hỏi mình có đang nhìn quá kỹ hay không.
Câu trả lời là có.
Nhưng biết mình nhìn quá kỹ không khiến việc nhìn trở nên vô ích.
Chỉ khiến mỗi dấu phải bị giảm trọng lượng xuống.
Tề Mặc đưa cho hắn một cuộn giấy.
“Đem bản này sang án bên cửa. So lại ba điểm trụ dự kiến.”
Lạc Hành Chu nhận lấy.
Án bên cửa chính là chỗ gần Tạ Hoài Uyên nhất.
Tề Mặc đã quay đi, rõ ràng không có ý nghĩa gì khác.
Lạc Hành Chu cũng không có lý do từ chối.
Hắn trải bản đồ xuống.
Một lát sau, bóng người dừng ở đầu án bên kia.
“Tề đạo hữu bảo ta đối chiếu đường hộ vận.”
Tạ Hoài Uyên nói.
Lạc Hành Chu không ngẩng đầu ngay.
“Vậy đối chiếu.”
Tạ Hoài Uyên ngồi xuống.
Trên án chỉ có một bản đồ, hai thẻ gỗ và một hộp mực.
Khoảng cách đủ gần để nói nhỏ mà người khác không cần nghe, nhưng không gần tới mức bất thường trong một phòng đầy người đang làm việc.
Lạc Hành Chu chỉ vào điểm trung tuyến thứ hai.
“Vô Tướng muốn đặt một trụ nông ở đây.”
Tạ Hoài Uyên nhìn.
“Đường xe nặng đi qua cách đó bao xa?”
“Ba mươi trượng nếu giữ tuyến hiện tại.”
“Lúc đặt trụ?”
“Có thể phải giảm xe trong nửa canh giờ.”
“Có thể?”
“Chưa đo nền đất.”
Tạ Hoài Uyên gật đầu.
“Vậy ghi là chưa biết.”
Lạc Hành Chu nhìn hắn.
“Ta tưởng kiếm tu thích câu trả lời rõ.”
“Thích.”
Tạ Hoài Uyên vẫn nhìn bản đồ. “Nhưng rõ mà sai thì dùng để làm gì?”
Câu này không có gì bất thường.
Rất nhiều người biết nói “chưa biết”.
Ít người thật sự chịu để nó nằm trên giấy khi đang tranh quyền.
Lạc Hành Chu đặt thêm một dấu nhỏ cạnh vị trí trụ.
“Có hai cách vào điểm này. Đường bắc ngắn hơn. Đường nam rộng hơn.”
“Ngươi chọn đường nào?”
“Chưa chọn.”
“Vì?”
“Chưa có số tải nền sau mưa.”
Tạ Hoài Uyên cười rất nhạt.
“Ta bắt đầu hiểu vì sao Tề đạo hữu gọi ngươi hai lần.”
Lạc Hành Chu dừng bút.
“Tề sư huynh kể?”
“Không.”
“Vậy ngươi hiểu gì?”
“Người cần đủ dấu mới chịu đi thường đứng lâu.”
Lạc Hành Chu nhìn hắn.
Tạ Hoài Uyên lúc này mới ngẩng lên.
Ánh mắt vẫn ôn hòa như hôm qua.
Không có vẻ gì của người vừa cố ý chạm đúng một chỗ.
Lạc Hành Chu hỏi: “Tạ đạo hữu đi nhanh hơn?”
“Thường vậy.”
“Vì ít cần dấu?”
“Vì có lúc dấu ở trên mặt người đang cầm kiếm.”
“Vậy nếu người đó cố ý cho ngươi nhìn sai?”
“Thì chịu một kiếm rồi sửa.”
Lạc Hành Chu im một nhịp.
“Cách học khá đắt.”
“Quy Tàng dạy kiếm, không dạy tiết kiệm.”
Khóe môi Lạc Hành Chu động rất nhẹ.
Hắn cúi xuống bản đồ trước khi đối phương có thể coi đó là một phản ứng đáng ghi.
Tạ Hoài Uyên cũng không nhắc.
Một lát sau, Lạc Hành Chu nói: “Nếu trụ ở điểm này mất nhịp, người hộ tuyến sẽ đứng ở đâu?”
Tạ Hoài Uyên không trả lời ngay.
Đây là câu hỏi chuyên môn đủ bình thường.
Ít nhất bề ngoài.
Lạc Hành Chu dùng đầu bút chỉ ba vị trí quanh trụ dự kiến: một bên có vách đá, một bên là đường xe, phía sau là rãnh thoát nước.
Với một kiếm tu không quen trận, chỗ an toàn nhất nhìn qua là khoảng giữa vách và trụ. Kín, ít xe, có vật chắn lưng.
Đời trước, Lạc Hành Chu từng dùng chính kiểu khoảng kín ấy để khóa kiếm của Tạ Hoài Uyên.
Tạ Hoài Uyên nhìn ba điểm.
Ngón tay hắn không chỉ vào khoảng giữa vách và trụ.
Hắn chạm xuống phía ngoài đường cong, gần mép rãnh hơn.
“Ở đây.”
Lạc Hành Chu hỏi: “Vì sao?”
“Chỗ kia kín quá.”
“An toàn hơn.”
“Nếu trụ chỉ đổ thì an toàn.”
Tạ Hoài Uyên dùng đầu ngón tay vạch một đường rất ngắn từ trụ tới vách.
“Nếu lực dội ngược theo mặt đất, người đứng trong góc kín chỉ có hai đường lui. Một đường bị trụ chắn, một đường bị vách ép. Kiếm dài đổi thế chậm.”
Hắn dừng lại.
“Ta thích chỗ xấu hơn nhưng còn ba đường.”
Lạc Hành Chu nhìn dấu ngón tay trên bản đồ.
Giải thích hợp lý.
Hoàn toàn bằng ngôn ngữ chiến trường.
Không cần biết trận thức tương lai của hắn.
Nhưng đáp án vẫn giống.
Giống tới lần thứ hai.
Tạ Hoài Uyên hỏi: “Ta chọn sai?”
“Chưa biết.”
“Lại chưa biết?”
“Chỗ đứng chỉ sai khi biết thứ gì sẽ xảy ra.”
Tạ Hoài Uyên dựa nhẹ lưng vào ghế.
“Vậy Lạc đạo hữu hỏi ta trước khi biết?”
“Ta muốn biết ngươi sẽ chọn gì.”
“Để làm gì?”
Lạc Hành Chu ngẩng lên.
“Giữ số đo gốc.”
Tạ Hoài Uyên im một nhịp.
Rồi hắn cười.
Không thành tiếng.
“Vậy nhớ ghi điều kiện lúc đo.”
Lạc Hành Chu nhìn hắn thêm một nhịp rồi cúi xuống giấy.
“Người được đo có quyền giữ bí pháp của mình.”
“Đương nhiên.”
“Tây Uyên giữ kết quả.”
“Cũng hợp lý.”
“Còn nếu kết quả khác lần trước?”
“Đo lần thứ ba.”
Tạ Hoài Uyên trả lời rất tự nhiên.
Lạc Hành Chu đặt bút xuống.
“Ngươi nghe khá kỹ.”
“Ta còn trẻ.”
“Liên quan?”
“Trẻ thì nên nghe người lớn nói.”
Lạc Hành Chu nhìn qua vai hắn.
Hàn Tố Nghi đang cách đó chưa tới hai trượng, cúi đầu kiểm sáu xấp giấy.
Tạ Hoài Uyên cũng nhìn theo.
Hai người cùng im.
Hàn Tố Nghi không ngẩng đầu.
“Ta nghe thấy.”
Tạ Hoài Uyên rất bình tĩnh.
“Vãn bối đang khen Hàn chấp sự.”
“Ta biết.”
Hàn Tố Nghi lật sang tờ tiếp theo.
“Cho nên ta mới không đuổi hai người ra ngoài.”
Lạc Hành Chu thu mắt về bản đồ.
Lần này khóe môi hắn thật sự động một chút.
Buổi chiều, Vô Tướng nhận được ba điểm được phép khảo sát nông vào sáng hôm sau.
Không phải ba điểm họ muốn nhất.
Là ba điểm Tây Uyên xác nhận có thể làm trước mà không cần di chuyển dân, cắt đường dài hoặc chạm vùng mộ cũ.
Tề Mặc xem lệnh rồi nói: “Đủ.”
Một trận sư trẻ bên cạnh hỏi: “Ba điểm này chưa chắc cho kết quả đẹp.”
Tề Mặc nhìn hắn.
“Chúng ta đi đo, không đi xin kết quả đẹp.”
Người kia im lặng.
Lạc Hành Chu cất lệnh vào túi.
Hắn thích câu đó.
Không phải vì mới.
Mà vì Tề Mặc từ trước tới giờ thật sự làm như vậy.
Trở về phòng nghỉ, Lạc Hành Chu mở Tĩnh Thất.
Không gian bên trong vẫn trống nhiều hơn đầy. Ba mẫu khoáng Thanh Mạch đặt ở góc bàn. Hộp trận châm, thuốc và bản đồ Tây Uyên chiếm chưa tới một phần giá.
Hắn đặt xấp giấy hôm nay xuống.
Sau đó lấy một tờ riêng.
Không dùng Vô Tự.
Vẫn chưa cần.
Lạc Hành Chu viết ba dòng.
Một: Tạ Hoài Uyên tránh đúng góc khép trong phòng nghị sự.
Hai: khi được hỏi về vị trí gần trụ, hắn lại tránh kiểu góc kín tương tự, nhưng đưa được lý do chiến trường hoàn chỉnh.
Ba: trong bàn quyền số đo, hắn không cố lấy quyền kiểm cuối cho Quy Tàng; phản ứng phù hợp với người phụ trách hộ tuyến và hiểu trách nhiệm tuyến.
Dòng thứ ba không phải bất thường.
Lạc Hành Chu vẫn ghi.
Muốn biết một người lệch ở đâu phải giữ cả những chỗ họ không lệch.
Nếu chỉ thu những gì phục vụ nghi ngờ, cuối cùng sẽ có một bức tranh rất đẹp.
Và rất có thể giả.
Hắn đặt bút xuống.
Bên cạnh tờ giấy còn khoảng trống đủ cho một dòng nữa.
Lạc Hành Chu không viết.
Tạ Hoài Uyên có thể đã học cách chọn vị trí sớm hơn hắn nhớ.
Có thể từng xem qua trận pháp tương tự.
Có thể đơn giản là một kiếm tu có bản năng chiến trường tốt đến mức đáng ghét.
Ba khả năng đầu vẫn sống khỏe.
Chưa có cái nào cần chết.
Cũng chưa có lý do dựng thêm một khả năng lớn hơn chỉ vì hai lần giống nhau.
Lạc Hành Chu gấp tờ giấy làm đôi.
Ngay lúc đó, tiếng gõ cửa vang lên ngoài phòng thật.
Hắn rời Tĩnh Thất, mở cửa.
Tề Mặc đứng ngoài, cầm một ngọc giản.
“Bản chia người Vô Tướng sơ bộ cho ba điểm sáng mai.”
Lạc Hành Chu nhận lấy.
Tề Mặc nhìn qua vai hắn, thấy trên án có bốn chiếc trận châm vẫn chưa cất hết.
“Lại tính gì?”
“Chỗ đứng.”
“Của trụ?”
Lạc Hành Chu dừng một nhịp.
“Của người.”
Tề Mặc nhìn hắn lâu hơn bình thường.
“Người cũng cần trắc?”
“Có lúc.”
“Đã ra kết quả chưa?”
“Chưa.”
Tề Mặc gật đầu như thể đó là đáp án hoàn toàn chấp nhận được.
“Vậy mai đo tiếp.”
Hắn quay đi.
Lạc Hành Chu đóng cửa lại.
Trên án, chiếc trận châm cuối cùng vẫn nằm ngoài ba điểm còn lại.
Hắn không chuyển nó vào trong.
Cũng không vứt ra khỏi bàn.